Chương I: Tổng quan tài liệu: Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chương 3: Kết quả và thảo luận:. Kết luận và kiến nghị: CHUONGI TONG QUAN TAI LIEU 1. CAC VAN DE VE DA DANG SINH HOC 1. Khái niệm về đa dạng sinh học Da dang sinh hoc (DSH) là thuật ngữ chỉ tính phong phú của sự sống trên trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là các gen chứa đựng trong các loài và các hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường.
Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về ĐDSH: Y Quy Bao vé Thiên nhiên Quốc tế - WWF (1989) quan niệm: “Đa dạng sinh học là sự phôn thịnh của sự sống trên trái dat, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” v⁄ Theo Hiệp định về đa dạng sinh học (CBD) “Đa dạng sinh học bao gồm sự phong phú đa dạng và khả năng biến đổi trong thế giới sinh vật sống và cả các phức hệ sinh thái mà trong đó chúng đang tồn tại, điều này có thể xảy ra trong cùng loài, giữa các loài, bên trong một hệ sinh thái hoặc giữa các hệ sinh thái với nhau” (CBD 1992) *⁄ Theo Công ước ĐDSH thì “ĐDSH là sự phong phú của mọi cơ thé sống có từ tất cả các nguồn trong các HST trên cạn, ở biển và các HST dưới nước khác, và mọi tô hợp sinh thái mà chúng tạo nên”. Qua các định nghĩa trên, ta thấy ĐDSH là toàn bộ tài nguyên thiên nhiên tạo nên do tất cả các dạng sống trên trái đất, là sự đa dạng của sự sống 6 tat cả các dạng, các cấp độ và các tổ hợp giữa chúng. Đó không chỉ là tổng số các. HST, các loài, các vật chất di truyền mà còn bao gồm tất cả các mối quan hệ phức tạp bên trong và giữa chúng với nhau.
Các nhà sinh vật học thường xem xét ĐDSH ở 3 mức độ: Đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái [4] © Da dang di truyền Đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng gen, chỉ sự phong phú về gen và sự khác nhau số lượng của các gen, bộ gen trong mỗi quần thể và giữa các cá thể. Nghiên cứu về đa dạng gen đòi hỏi nhiều thời gian, thiết bị, tài chính, kỹ thuật và hiểu biết về đa dạng gen trên thế giới còn ít.Tuy nhiên, đa dạng di truyền có tầm quan trọng đối với bất kỳ một loài sinh vật nào để duy trì khả năng sinh sản hữu thụ, tính bền vững và khả năng thích nghỉ của các cá thể trong loài với các điều kiện sống luôn biến đồi. © Da dang loài Là sự phong phú về số loài và trữ lượng các loài trong hệ sinh thái. Đây là khái niệm dễ hiểu và dễ nhận thấy trong thực tế vì loại danh mục các loài động, thực vật ghi nhận được của một đợt khảo sát thực địa chính là đa dạng loài động thực vật ở khu vực đó.
Hiện nay có khoảng trên 1.4 triệu loài sinh vật đã được mô tả và dự đoán có thể có từ 5 triệu đến 30 triệu loài sinh vật trên quả đất. Đa dạng loài có tầm quan trọng trong việc duy trì tính ồn định của các quần thể và hệ sinh thái © Da dang hé sinh thái Cac quan xã sinh học có mối quan hệ qua lại với môi trường vật lý tạo. thành một hệ sinh thái. Sự phong phú về môi trường trên cạn và dưới nước của quả đất đã tạo nên một số lượng lớn các hệ sinh thái.
Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về trạng thái và loại hình của các mối quan hệ giữa quần xã sinh học với môi trường tự nhiên. Đa dạng hệ sinh thái có tính chất trừu tượng hơn so với đa dạng gen và loài. Tuy nhiên, tắt cả 3 dạng này của đa dạng sinh học là không thể tách rời mà có liên quan chặt chẽ với nhau. + Da dang sinh hoc beta: mô tả cho biết sự khác nhau về thành phần loài giữa 2 hiện trường nghiên cứu gần kể dọc theo một lát cắt; chỉ số beta thấp khi thành phần loài của 2 hiện trường nghiên cứu có tính tương đồng cao và ngược lại.
Giá trị này đạt tối đa khi giữa 2 hiện trường nghiên cứu không hề có chung một loài xuất hiện (tương đồng là Zero). + Đa đạng sinh học gamma: được định nghĩa là mức độ gặp một loài bổ sung khi thay đôi địa lý trong các khu vực khác nhau của một kiểu cư trú. Da dạng này cho biết sự khác nhau về thành phân loài và các chỉ số đa dạng sinh học của 2 khu hệ sinh sống gần kể nhau. Như vậy, ĐDSH bao gồm sự phong phú của thế giới sinh vật ở tắt cả các dạng, các bậc phân loại, các mức độ và sự tổ hợp của chúng trong các mi quan hệ phức tạp giữa chúng với nhau, với thế giới vô sinh và với xã hội loài người.
Tầm quan trọng của đa dạng sinh học © Gid trị kinh tế Giá trị được tính ra tiền do việc khai thác, sử dụng mua bán hợp lý các tài nguyên ĐDSH, đảm bảo cơ sở cho an ninh lương thực và phát triển bền vững của đất nước, đảm bảo các nhu cầu về ăn, mặc của nhân dân, góp phần xóa đói giảm nghèo. « Giá trị sinh thái và môi trường Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự sống trên trái đất, trong đó có loài người. Các hệ sinh thái đảm bảo sự chu chuyển của các chu trình địa hóa giúp duy trì sự ôn định và màu mỡ của đất, nước ở hầu hết các vùng trên trái đất, làm giảm nhẹ sự ô nhiễm, thiên tai. «©- Giá trị xã hội và nhân văn “Trong các nền văn hóa của nhiều dân tộc trên thế giới, một số loài động.
vật hoang dã được coi là biểu tượng trong tín ngưỡng, thần thoại hoặc các tác phẩm hội họa, điêu khắc. Nhiều loài cây, con vật đã trở thành thiêng liêng hoặc vật thờ cúng đối với các cộng đồng người Việt như: gốc đa thiêng, đền thờ cá Ông ở các tỉnh miền Nam Trung bộ. © Gid tri bảo vệ tài nguyên đất và nước Các quần xã sinh vật đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo vệ rừng. đầu nguồn, đặc biệt thảm thực vật có thể làm giảm nhẹ mức độ hạn hán, lũ lụt cũng như duy trì chất lượng nước.
Đất bị suy thoái khiến thảm thực vật khó có thể phục hồi càng gia tăng các thảm họa thiên nhiên như lũ lụt, hạn hán. hoặc gây ô nhiễm môi trường đất và nước © Gid trị về thẩm mỹ, văn hoá Những hình ảnh, những cảnh quan tự nhiên do các loài sinh vật cũng như các hệ sinh thái tạo nên đã giúp con người mở mang trí tuệ, làm giàu tri thức của mình, ĐDSH giúp con người sống và hiểu nhau hơn. Khám phá thiên nhiên hoang dã luôn là niềm đam mê của hàng triệu người trên thế giới và du lịch sinh thái là một trong các ngành có tốc độ phát triển nhanh, thu lợi lớn ở nhiều nước trên thế giới [9]. Suy thoái đa dạng sinh học và giải pháp bão tồn ©_ Suy thoái đa dạng sinh học Tuy rừng Việt Nam có tính ĐDSH cao nhưng hiện nay nó đã và đang bị suy giảm về diện tích và trữ lượng.
Từ năm 2005 ~ 2009, diện tích rừng nước ta giảm từ 14. Nhưng hon hai phan ba diện tích rừng của nước ta là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hỏi [4]. Tính ĐDSH suy giảm do hai nguyên nhân chính, đó là hiểm hoạ tự nhiên (băng hà, núi lửa, động đất.) và do con người, trong đó nguyên nhân con người là chủ yếu. ©_ Các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học Cũng như nhiều nước trên thế giới, Việt Nam hiện đang áp dụng 3 giải pháp chủ yếu nhằm bảo tồn tính ĐDSH của mình, đó là: - Các công ước Quốc tế: Việt Nam đã ký tham gia nhiều công ước quốc tế nhằm góp phần bảo tồn đa dạng sinh học toàn cầu như sau: Bảng 1.
Các công ước bảo tén da dang sinh học Tên công ước Năm ký Công ước bảo vệ các vùng đất ngập nude - RAMSA 1983 Công use Buda bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang, 1994 da nguy cp — CITES Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biến 1994 Công ước về bảo vệ tâng ôzôn 1994 Nghị định thư về các chât lâm suy thoái tâng 6 z6n 1994 Công ước khung của Liên hiệp quốc về biến đổi khí hậu 1994 Công ước ĐDSH 1994 Công ước vẽ kiếm soát vận chuyển xuyên biên giới và tên |. huỷ chất thải nguy hiểm ~ Bảo tồn nội vi (Insitu): Day là giải pháp bảo tồn các loài tại ngay nơi chúng đang tồn tại. Bảo tồn nội vi hiện được nhiều quốc gia áp dụng thông qua các hoạt động xây dựng hệ thống khu bảo tồn ~ Bảo tồn ngoại vi (Exitu): Gây nuôi trồng các loài có nguy cơ bị tiêu diệt thông qua các hoạt động xây dựng các Vườn thực vật, Vườn cây gỗ, Ngân hàng hạt giống, Vườn thú, Trung tâm cứu hộ, Bễ nuôi. 10 Công tác bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam thực chất đã được Đảng và Chính phủ quan tâm từ lâu.
Nhiều văn bản pháp quy về bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ động vật hoang đã, nguồn lợi thuỷ sản đã được ban hành từ những năm cuối của thập kỷ 50 và phát triển mạnh từ những năm đầu thập kỷ 60. Ngoài các Bộ luật của Quốc gia hiện có 1 pháp lệnh và 2 bộ luật quan trọng liên quan đến bảo tồn ĐDSH đó là "Pháp lệnh bảo vệ và phát lên nguồn lợi thuỷ sản" (1989), "Luật bảo vệ và phát triển rừng" (1991- Sửa đổi năm 2004) và "Luật bảo vệ môi trường" (1993). Mặc dù đất nước có chiến tranh nhưng ngay từ năm 1962, Vườn Quốc gia (VQG) đầu tiên của Việt Nam -VQG Cúc Phương đã được thành lập. Đến nay, một hệ thống gồm 133 khu bảo tồn đất liền và biển với tổng diện tích I 229 817 ha đang được đệ trình Chính phủ phê duyệt.