Chương 1: Tổng quan tài liệu * Lược sử nghiên cứu cá ở Việt Nam * Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng nghiên cứu. Chương 2: Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu * Đối tượng nghiên cứu * Thời gian nghiên cứu * Địa điểm nghiên cứu * Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận * Thành phân loài cá sông Trường Giang. * Đặc điểm phân bó thành phần loài cá sông Trường Giang * Tình hình khai thác và nuôi trồng thủy sản ở sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam Một số giải pháp để phát triển bền vững ngành nuôi trồng và khai thác thủy sản trên sông Trường Giang, tỉnh Quảng Nam Kết luận và kiến nghị Tài liệu tham khảo Phụ lục CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1. LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ Ở VIỆT NAM 1.
Tình hình nghiên cứu cá ở Việt Nam Việt Nam là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương. Có hệ thống sông ngòi dày đặc (2.360 con sông dài trên 10 km) nên có nguồn lợi thủy hải sản rất phong phú và đa dạng. Trong thời kỳ phong kiến, những hiểu biết về đời sống của các loài cá, nghề nuôi cá, nghề khai thác, chế biến cá, nghề làm nước mắm. được ghi chép trong các sách sử học và kinh tế học, nhưng chưa mang tính hệ thống và khoa học.
Những nghiên cứu về cá mang tính khoa học và có hệ thống chỉ bắt đầu từ thời kỳ Pháp thuộc. Các nghiên cứu về cá chủ yếu do người Pháp tiến hành. Hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào lĩnh vực hình thái phân loại, khu hệ cá và phân bố địa lý của các loài cá Theo Bộ thủy sản, nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (1996), công trình đầu tiên được công bố là của H.E Sauvage (1881) trong “Nghiên cứu về khu hệ cá Châu Á và mô tả một số loài mới ở Đông Dương” báo cáo đã thống kê 139 loài chung cho toàn Đông Dương và mô tả 2 loài mới ở miền Bắc Việt Nam. Vallant thu thập và mô tả 6 loài, trong đó có 4 loài mới ở Lai Châu.
Vào những năm 1937 có một công trình tổng hợp về cá nước ngọt miền Bắc của P. Lemason là “Góp phần nghiên cứu các loài cá nước ngọt miền Bắc Việt Nam” đưa ra 17 họ, 98 loài, đây là công trình tổng hợp đầy đủ nhất lúc bấy , tuy trước đó cũng có các công trình tổng hợp của P. Chevey (1932) nhưng chưa day đủ. Công trình nghiên cứu cá nước ngọt đầu tiên của Miền Trung là của G.Tirant đã công bố thành phần loài, mô tả 70 loài cá sông Hương (Huệ) với 5 loài mới [60] Trong thời gian dài, Từ 1945 đến 1954 nước ta trải qua thời kỳ kháng chiến chống Pháp nên ở giai đoạn này các nghiên cứu bị gián đoạn.
Từ năm 1955, các nghiên cứu về cá ở Việt Nam mới tiếp tục trở lại và chủ yếu do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện. Những nghiên cứu đầu tiên được thực hiện bởi trạm nghiên cứu thủy sản nước ngọt Đình Bảng thuộc Tổng cục thủy sản, khoa Sinh học, trường Đại học Tổng hợp Hà Nội và Trường Đại học Thủy sản Hải Phòng. Các tác giả và công trình tiêu biểu như: Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1958): “Dẫn liệu sơ bộ ngư giới Ngòi Thia”, Đào Văn Tiến và Mai Đình Yên (1960) “Sinh học và giá trị kinh tế cá Mòi sông Hồng”, Mai Đình Yén (1962) “So bộ điều tra thành phần loài, nguồn gốc và phân bé của chủng cá sông Hồng”, Mai Đình Yên (1963) “Ý nghĩa kinh tế ngư giới sông Hồng”, Nguyễn Anh Tạo (1964) “Nguồn lợi thuỷ sản của sông Lạch Trường và sông Ma”, Nguyễn Văn Hảo (1971): “Sơ bộ điều tra nguồn lợi cá sông Mã” [191160] Ở miền Nam, thời kỳ này cũng có một số công trình của Trần Ngọc Lợi và Nguyễn Cháu (1964), Fourmanvir (1965), M. Nhìn chung, giai đoạn từ 1955 — 1975, các công trình đã có những đóng góp nhất định trong công tác nghiên cứu cá.
Tuy nhiên, các nghiên cứu vẫn còn mang tính chất riêng lẻ cho từng khu vực. Sau khi đất nước thống nhất năm 1975, các công trình nghiên cứu về cá được quan tâm thực hiện trên phạm vi cả nước, các công trình nghiên cứu mang tính chuyên sâu và toàn diện cả về đa dạng sinh học, đặc điểm sinh thái, giá trị của nguồn lợi, phát triển bền vững nguồn lợi,. mở rộng phạm vi nghiên cứu trên hầu hết các thủy vực khác nhau, lắp dần các điểm trắng chưa được điều tra. Công trình mang tính tổng hợp các kết quả nghiên cứu của các thời kỳ trước được công bố là: "Định loại cá nước ngọt ở các tỉnh miền Bắc Việt Nam" của Mai Đình Yên (1978) đã thống kê danh mục, mô tả chỉ tiết, lập khóa định loại, đặc điểm phân bố và ý nghĩa kinh tế của 201 loài cá nước ngọt ở Miền Bắc nước ta.
Và "Định loại các loài cá nước ngọt Nam Bộ" do Mai Đình Yên chủ biên với các cộng sự Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn Văn Thiện, Lê Hoàng Yến và Hứa Bạch Loan (1992) mô tả, lập khóa định loại 255 loài cá ở Nam Bộ Việt Nam [57], [58] Khu vực Miền Trung, Tây Nguyên thời gian trước đây rất ít được đầu tư nghiên cứu, tuy nhiên gần đây đã có nhiều công trình tiêu biểu của nhiều tác giả: Nguyễn Hữu Dực (1982) “Thành phần loài cá sông Hương” đã thống kê được 58 loài, Nguyễn Thái Tự (1983) “Khu hệ cá sông Lam” đã thống kê được 157 loài; Năm 1991, Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Dực, Thành phần loài cá sông Thu Bồn với 85 loài, sông Trà Khúc với 47 loài, sông Vệ 34 loài, sông Côn 43 loài, sông Ba 48 loài, sông Cái với 25 loài [16]; Nguyễn Văn Hảo, Nguyễn Hữu Dực (1994), '“Thành phần loài ở một số sông suối của Tây Nguyên” (82 loài)[59]; Võ Văn Phú (1995), “Thành phần cá ở đầm phá Thừa Thiên Huế” thống kê được 163 loài [34]; Nguyễn Thái Tự (1999) “Khu hệ cá Phong Nha” với 72 loài; Võ Văn Phú và Trần Hồng Dinh (2000), “Dac dié cấu trúc khu hệ cá ở đầm Lăng Cô” với 151 loài [59]. Nguyễn Thị Thu Hè (1999), “Thành phần loài cá ở sông suối Tây Nguyên” với 138 loài [21]; Võ Văn Phú, Nguyễn Trường Khoa (2000), “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Thạch Hãn, tỉnh Quang Tri” với §3 loài [21][27]; Võ Văn Phú (2001), “Thành phần loài cá Tam Giang - Cầu Hai, tỉnh Thừa Thiên Huế sau trận lũ lịch sử 1999” (171 loài) [36]; Nguyễn Thị Thu Hè (2003), “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở một số hồ Tây Nguyên, Việt Nam” (76 loài) [21]; Cấu trúc thành phần loài cá ở sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Bình của Võ Văn Phú, Trương Thị Thu Hà và Hoàng Thị Thúy Liễu (2003) gồm 169 loai [38]; Da dang về thành phần loài cá ở đầm Ô Loan của Võ Văn Phú, Nguyễn Thị Phi Loan và Hồ Thị Hồng (2003) gồm 108 loài [29]; Cấu trúc thành phần loài khu hệ cá một số cửa sông ven biển miền Trung của Võ Văn Phú, Nguyễn Duy Chinh và Hồ Thị Hồng (2004) gồm 200 loài [47]; Thành phần loài khu hệ cá sông Ba, tỉnh Phú Yên của Võ Văn Phú và Nguyễn Minh Ty (2005) với 71 loài [41] Võ Văn Phú, Hồ Thị Nhi Min (2007), "Nghiên cứu đa dạng về thành phần loài cá ở hệ thống sông Nhật Lệ, Quảng Bình" với 216 loài [31]; Võ Văn Phú, Nguyễn Vinh Hiển (2007), "Nghiên cứu thành phần loài cá ở sông Bến Hải" với 100 loài [22]; Võ Văn Phú, Trần Thuy Cam Ha (2008), "Đa dạng về thành phân loài cá ở hệ thống sông Bù Lu thuộc huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế" với 154 loài [44]; Nguyễn Minh Ty (2010), “Nghiên cứu khu hệ cá sông Ba” đã xác định được 182 loài cá [56]; Võ Văn Phú, Nguyễn Giang Nam (2011), "Nghiên cứu khu hệ cá ở sông Long Đại, tỉnh Quảng Bình" đã xác định được 101 loài [18] 1. Tình hình nghiên cứu cá ở tỉnh Quảng Nam 'Từ những năm 1981, các tác giả Mai Đình Yên và Nguyễn Hữu Duc da tiến hành nghiên cứu các loài cá nước ngọt ở các tỉnh ven biển Nam Trung bộ [55]. Trong đó có sông Thu Bồn của tỉnh Quảng Nam là một trong số 7 vực nước được điều tra, nghiên cứu.
Đến năm 1991, hai tác giả đã công bố thành phần loài cá sông Thu Bồn có tổng số 58 loài. Năm 1995, một công trình nghiên cứu về cá có liên quan đến Quảng Nam đã được Nguyễn Hữu Dực thực hiện “Góp phần nghiên cứu khu hệ cá nước ngọt Nam Trung bộ Việt Nam”. Tác giả đã công bố 134 loài cá thuộc khu hệ cá Nam Trung bộ Việt Nam [6], [59]. Những năm tiếp theo nghiên cứu cá ở Quảng Nam bị gián đoạn.
Năm 2004, Vũ Thị Phương Anh, Võ Văn Phú công bồ thành phần loài cá ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam gồm 71 loài nằm trong 49 giống, thuộc 19 họ của 9 bộ khác nhau. Đồng thời các tác giả đã xác định được 10 loại cá số lượng nhiều, khai thác cho sản lượng cao và có thịt thơm ngon, được xem là cá kinh tế cho khu vực, trong đó có cá Niên. Đề tài “Dẫn liệu bước đầu về thành phần loài cá ở sông Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam” của Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh và Nguyễn Ngọc Hoàng Tân (2005) với 83 loài, nằm trong 59 giống, 34 họ thuộc 10 bộ khác nhau, trong đó có bộ cá Vược (Perciformes) chiếm ưu thế về thành phần họ, giống và loài [1], [37]. Năm 2008, Nguyễn Kim Sơn, Hồ Thanh Hải công bố thành phần loài cá trong hệ thống sông Vu Gia, Thu Bồn gồm 107 loài cá, thuộc 31 họ, 9 giống.
Trong đó có § loài nằm trong sách đỏ Việt nam. Cũng năm 2008, Võ Van Pha, Vũ Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Lý Hằng, Lê Hải Thành va Pham Thi Nhu Ý công bố thành phần loài cá ở tỉnh Quảng Nam gồm: 92 loài trong 60 giống, thuộc 21 họ của 9 bộ, trong đó có 8 loài cá quý hiếm [42]. Năm 2009, Lê Hải Thành, Võ Văn Phú “Nghiên cứu nguồn lợi cá ở lưu vực hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam nhằm đề xuất giải pháp phát triển bền vững” đã xác định được 114 loài cá nằm trong 9 bộ, 22 họ, 72 giống [50]. So với kết quả nghiên cứu của Võ Văn Phú, Vũ Thị Phương Anh, Nguyễn Thị Lý Hằng, Lê Hải Thành và Phạm Thị Như Ý tại thời điểm đó thì kết quả nghiên cứu này đã bổ sung 22 loài mới (chiếm 19,30% tổng số loài) thuộc 3 bộ, 5 họ cho khu hệ cá lưu vực hồ Phú Ninh.