Chương 1. Tổng quan tài liệu Chương 2. Đối tượng, thời gian, địa điểm và phương pháp nghiên cứu. Kết quả và bàn luận Kết luận và kiến nghị Danh mục tài liệu tham khảo CHUONG 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẺ GIỚI 1. Ảnh hưởng của hoạt động du lịch đến sự suy giảm đa dạng lưỡng cư, bò sát trên thế giới Da dạng sinh học rất quan trọng đối với ngành du lịch. Bờ biển, núi, sông và rừng là các điểm hấp dẫn đối với khách du lịch trên toàn thế giới. lịch trong vùng biển Caribbean, Địa Trung Hải và nhiều khu vực Đông Nam A phụ thuộc mạnh mẽ vào những cơ hội phát triển du lịch giải trí dựa vào tài nguyên môi trường ven biển.
Tại miền nam và miền đông Châu Phi, du lich dựa vào săn động vật hoang đã là một điểm hấp dẫn chiếm ưu thế và tạo. nguồn thu nhập cho các ngành du lịch. Động vật hoang đã và các cảnh quan là những điểm hấp dẫn quan trọng đối với ngành du lịch tại các khu vực miền núi (UNWTO, 2010). Tắt cả các loại hình du lịch, ngay cả ở trung tâm thành phó, dựa vào tài nguyên thiên nhiên như cung cấp nguồn lương thực, nước sạch và các dịch vụ sinh thái, quy chung lại đều phụ thuộc vào đa dạng sinh học (ƯNWTO, 2010).
Sự gia tăng ngành du lịch và các hoạt động giải trí ngoài trời gần đây được coi là mối đe dọa lớn đến đa dạng sinh học trên toàn thế giới (Rodriguez-Prieto, 2005). Tỷ lệ tham quan của con người đến các điểm nóng đa dạng sinh học trên toàn thế giới sẽ tăng gấp đôi vào năm 2020 (Chist et al. Những ảnh hưởng của các hoạt động giải trí đã được nghiên cứu ở bò sat (Hecnar and M’Closkey, 1998; Lacy and Martins, 2003), Chim (Cornelius et al., 2001; Femna‘ndez-Juri-cic, 2002, Rees et al., 2005), và động vật có vú (De la Torre et al, 2000; Papouchis et al., 2001) ở cả 02 môi trường trên cạn Việc mất đa dang sinh hoc kèm theo sự tăng cường sử dụng các tài nguyên môi trường, được đo bằng sự mắt mát các hệ sinh thái quan trọng, chẳng hạn như rừng, đất ngập nước hoặc các rạng san hô và trong số những. loài đang bị đe dọa tuyệt chủng sẽ trở nên tuyệt chủng.
Tỷ lệ tuyệt chủng ngày nay được báo cáo là tăng hơn 1000 lần so với tỷ lệ tuyệt chủng tự nhiên và chức năng của hệ sinh thái giảm đi (ƯNWTO, 2010). Phần lớn khách du lịch có đòi hỏi cao các nguồn tài nguyên thiên nhiên, bao gồm thực phẩm (phần lớn là hải sản), các materials (vá: liệu) xa hoa, một lượng lớn nước ngọt cho khách sạn, các khu đắt dành cho thể thao và khu vực tự nhiên dành cho giải trí (UNWTO, 2010). Millennium Ecosystem Assessment ctia Lién Hiép Quốc đã kết luận rằng các hoạt động của con người đã đe dọa đến khả năng của trái đất để duy trì cho. các thế hệ tương lai.
Hiện trạng suy giảm đa dạng lưỡng cư, bò sát trên thế giới &. Hiện trạng suy giảm đa dạng lưỡng cư trên thế giới Sự suy giảm số lượng lưỡng cư toàn cầu được quan tâm rộng rãi (Blaustein va Wake, 1990; Houlahan et al. Thay đổi môi trường sống, khai thác quá mức, du nhập của các loài ngoại lai, các dịch bệnh, bức xạ UV- B, các chất ô nhiễm hóa học và biến đổi khí hậu là nguyên nhân gây ra sự suy giảm số lượng lưỡng cu (Collins va Storfer, 2003). Mét vai tac gia cho ring, lưỡng cư là một loài chỉ thị tốt cho những căng thẳng của môi trường (Blaustein, 1994; Blaustein và Wake, 1995;).
Mắt môi trường sống vẫn là nguyên nhân chính của sự tuyệt chủng cho tắt cả các sinh vật, bao gồm lưỡng cư (Karen R. Hơn 32% (1856 loài) các loài lưỡng cư trên thế giới đang bị đe dọa toàn cầu (IUCN, 2001), một tỷ lệ cao hơn nhiều so với các loài chim bị đe dọa - 12% (1211 loài) (BirdLife International, 2004) hoặc động vật có vú - 23% (1130 loài) (IUCN, 2003) và 168 loài có thể đã bị tuyệt chủng. Đầu những năm 1900, một nhóm các nhà sinh học đã khảo sát các loài lưỡng cư dọc tuyến đường cắt ngang chạy qua các dãy núi Sierra Nevada, bao gồm cả công viên quốc tế Yosemite. Trong năm 1990, nhà sinh học Charles Drost và Gary Fellers đã khảo sát trên cùng tuyến tại công viên Service.
5 trong 7 loài ếch và cóc đã bị suy giảm nghiêm trọng. Loài ếch đổi chân vàng. (Rana boylii) đã hoàn toàn biến mắt khỏi khu vực. Loài ếch núi chân vàng (#.
muscosa) một loài phô biến nhất chỉ còn lại 1 vài quần thể. Tiến sĩ Martha, đại học Florida cùng các đồng nghiệp đã đếm được hơn 1500 con cóc vàng ((Bu/o periglenes) trưởng thành và 1 vài con nòng nọc vào năm 1987 ở Costa Rica. Trong năm 1988 chỉ có 11 con trưởng thành được tìm thấy ở khu vực. Một con cóc đực trưởng thành quan sát được cuối cùng vào năm 1989.
Mặc dù đã có các tìm kiếm chuyên sâu nhưng không có con cóc vàng nào được tìm thấy nữa. Các loài này hiện nay được tin là đã tuyệt chủng (Reaser, J. Sự suy giảm nỗi tiếng toàn cầu của các loài lưỡng cư bắt đầu vào những năm 1950, 1960 và hiện tại vẫn tiếp tục giảm ở mức 2% mỗi năm, với mức giảm rõ rệt hơn ở khu vực các con suối của vùng nhiệt đới (Houlahan et al., 2000; Stuart et al. Gần đây nhất, Stuart et al., 2004 đã báo cáo về tình trạng các loài lưỡng.
cư trên toàn cầu. Ông chỉ ra rằng 43% các loài lường cư đang bị suy giảm số lượng, 32,5% loài bị đe dọa toàn cầu, 122 loài có thể bị tuyệt chủng. Stuart et al., 2004 chỉ ra rằng khai thác quá mức dùng làm thực phẩm và công nghiệp là mối đe dọa đối với các loài lưỡng cư ở Châu Á, mất môi trường sống là mối đe dọa đối với các loài lưỡng cư ở Châu Phi. Nam 2005, Bustamante và cộng sự đã hồi cứu số liệu và so sánh về sự đa dạng lưỡng cư ở 07 khu vực khác nhau của dãy núi Andes.
Kết quả đáng kinh ngạc khi 6 trong 7 khu vực có sự suy giảm đa dạng loài và 56 trong 88 quần thê hiện nay có sự phong phú thấp hơn so với trước đây. Ngoài ra, giữa các loài khác nhau về mặt sinh thái đã suy giảm hoặc biến mắt. Bustamante chỉ ra rằng, chỉ có 17 trong 34 loài có con non sống dưới nước vẫn còn tổn tại ở khu vực, trong khi đó có đến 24 trong 25 loài có đời sống phát triển trực. tiếp trên cạn hoặc không có giai đoạn con non sống dưới nước tồn tại ở khu vực dãy núi Andes Carlos Guilherme Becker et aL, 2007 có công trình nghiên cứu ở Brazil, là một điểm nóng về đa dạng sinh học bị de dọa nhiều nhất, tập trung ở rừng Atlantic, một trong năm điểm nóng về đa dạng sinh học với hơn 480 loài lưỡng cư (trong đó có 80% loài có giai đoạn con non phát triển dưới nước).
Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ còn ít hơn 7% các loài ở rừng Atlantic còn tồn tại. Theo kết quả nghiên cứu, sự chia cắt môi trường sống đã ảnh hưởng đến sự đa dạng loài đối với các loài lưỡng cư có giai đoạn con non phát triển dưới nước nhưng không ảnh hưởng đến đa dạng loài của các loài lưỡng cư có ng phát triển trực tiếp trên cạn. Như vậy, chia cắt môi trường sống là ảnh hưởng mạnh nhất đến sự đa dạng loài của các loài lưỡng cư có giai đoạn con non phát triển dưới nước. Việc thiếu trách nhiệm trong công tác bảo tồn do chưa hiểu rõ nguyên nhân suy giảm cùng nghĩa với việc hàng trăm loài lưỡng cư đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng (Simon N.
Hơn nữa, sự suy giảm quần thể lưỡng cư rất khó phát hiện, do đó cần có các nghiên cứu dài hạn về số lượng. tự nhiên của quần thê lưỡng cư để có thể biết được xu hướng biến động của quan thé (Tinkle, 1979). Hiện trạng suy giảm đa dạng bò sát trên thế giới Nước ngọt chỉ chiếm 0,01% lượng nước trên thế giới và chỉ bao gồm 0,8% bề mặt của Trái đất nhưng phần nhỏ nước này đã hỗ trợ ít nhất 100.000 10 loài trong số khoảng 1,75 triệu - gần 6% (David Dudgeon et al. Giảm đa dạng sinh học trong vùng nước ngọt lớn hơn nhiều so với các hệ sinh thái trén can (Sala et al.
Theo Monika Bohm và cộng sự năm 2013, tỷ lệ các loài bò sát bị đe dọa cao nhất trong môi trường nước ngọt, tại các vùng nhiệt đới và các đảo trên các đại dương, trong khi ở các khu vực nhiệt đới như Trung Phi và Đông Nam A thi thi dữ liệu về tỷ lệ tuyệt chủng bò sát. Bò sát có phạm vi phân bố hẹp hơn so với động vật có xương sống khác chẳng hạn như các loài chim va động vật có vú (Anderson, 1984; Anderson and Marcus, 1992) nên chúng nhạy cảm hơn đối với các quá trình đe dọa. Nhiều nhà khoa học cho rằng mắt môi trường sống là yếu tố lớn nhất góp phần vào sự suy giảm các loài lưỡng cư, bò sát (Alford and Richards, 1999). Ví dụ: một số khu vực ở Hoa Kỳ chỉ còn ít hơn 20% diện tích đất ngập nước, hậu quả đã làm giảm số lượng các quần thê lưỡng cư (Lanno et al.
Nhiều loài bò sát sống phụ thuộc vào những vùng đất ngập nước tương đối giống nhau, việc loại bỏ hoặc thay đổi hơn 90% đầm lầy ở miền nam Carolina đã làm giảm môi trường sống của rắn đen đầm lầy (Seminatrix pygaea); rắn nước màu xanh (Nerodia /loridana); rùa (Deirochelys reticularia). Tat cả đều phân bố ở các vùng đầm lầy theo mùa (Buhlmann, 1995, Dorcas et al. Sự phong phú của các loài bò sát sống trên cạn và môi trường nước. ngọt bị ảnh hưởng bởi mất môi trường sống đặc biệt cao ở các vùng nhiệt đới đặc biệt là ở đông nam lục địa Châu Á, Srilanka, Indonesia, Philippines và Bomeo, ngoài ra còn ở Trung Mj (cu thé Panama va Costa Rica) và phía bắc.
Nam Mỹ (đặc biệt i Brazil) (Monika Bohm et al. Phát triển nông nghiệp và sử dụng tài nguyên (chủ yếu là khai thác gỗ) là các mối đe dọa phổ biến nhất đối với các loài bò sát trên mặt đất. Phát triển 13 các nhà khoa học trong nước thực hiện. Nghiên cứu LC - BS vào thời gian đầu của giai đoạn này có lẽ là của GS.
Đào Văn Tiến, sưu tầm thành phần loài ở Vĩnh Linh (Quảng Trị, 1957), Đình Cả (Thái Nguyên, 1961), tiếp theo là ở Ba Bề (Bắc Can, 1963).