Mở đầu cho hướng nghiên cứu này phải kể đến các nghiên cứu của Nguyễn Xuân Quýnh và cộng sự (2000, 2001, 2004) đã đưa ra khóa định loại đến họ các nhóm ĐVKXS ở nước ngọt phục vụ cho việc nghiên cứu đánh giá chất lượng nước bằng sinh vật chỉ thị. Đồng thời, các tác giả đã công bố một quy trình quan trắc và đánh giá chất lượng nước ngọt bằng việc sử dụng sinh vật chỉ thị là ĐVKXS cỡ lớn [15], [16]. [52] Nghiên cứu của Hoàng Đình Trung và cộng sự (2011) về đa dạng thành HH phần loài ĐVKXS cỡ lớn và chất lượng nước mặt ở sông Hương đã xác định 37 loài trong 25 họ ĐVKXS cỡ lớn. Trong đó, ấu trùng côn trùng nước chiếm ưu thế, phần lớn các họ này là các nhóm chỉ thị cho vùng nước sạch, có điểm số BMWP từ 5-10 điểm.
Từ các chỉ số ASPT theo hệ thống tính điểm BMWPYTT cho thấy chất lượng nước sông Hương ở hạ lưu bị ô nhiễm hữu cơ ở mức khá lớn. Hầu hết các chỉ số ASPT thu được đều thuộc mức bân vừa (ơ- mesosaprobe). Điều này phù hợp với kết quả phân tích hóa học chất lượng môi trường nước [29] Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố sinh thái lên quần xã ĐVKXS ở nước cũng là hướng nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm. Theo hướng nghiên cứu này, khi nghiên cứu vẻ sông Tô Lịch, Nguyễn Xuân Quýnh (1985) đã kết luận tình trạng ô nhiễm của sông theo các đoạn khác nhau.
Đoạn từ Bưởi đến Nghĩa Đô do có nước thải của nhà máy da, nhà máy giấy Thụy Khuê, nhà máy bánh mỳ Nghĩa Đô đổ vào làm cho đoạn sông này bị nhiễm bản nặng, thành phần loài, số lượng ĐVN thấp (14 loài), ĐVĐ không, gặp. Đoạn từ Cầu Giấy đến Kim Giang điều kiện môi trường có phầ tốt hơn (17-24 loài DVN và 4 loài ĐVĐ). Từ nhà máy sơn Tổng hợp đến cầu Bươu, do ảnh hưởng của nước thải các nhà máy sơn, pin và phân lân Văn Điền, số loài ĐVKXS lại giảm xuống (16 loài ĐVN và 2 loài ĐVĐ) nhưng không gặp ấu trùng Chironomidae. Tác giả cũng đã xếp loại một số thủy vực nhiễm bản ở Hà Nội, dự đoán xu thế phát triển của các thủy vực Hà Nội trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa [14].
Jung và cộng sự (2007) nghiên cứu về thành phần loài và phân bố theo độ cao của quần xã côn trùng nước ở suối tại Sapa, Lao Cai [45]. Từ sau năm 2010 hướng nghiên cứu xác định thành phẩn loài và mối quan hệ gân gũi giữa các khu hệ cũng được các nhà khoa học quan tâm. 12 2012 Hoàng Đình Trung, Hoàng Việt Quốc đã xác định được 43 loài động vật đáy thuộc 29 giống, 16 họ và 5 lớp, ở vùng hạ lưu sông Hiếu, tỉnh Quảng Trị: trong đó lớp Giáp xác (Crustacea) với 18 loài thuộc 11 giống, 4 họ; lớp Giun nhiều tơ (Polychaeta) có 2 loài thuộc 2 giống, 2 họ; lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) có 3 loài thuộc 2 giống, 2 họ; lớp Chân bụng (Gastropoda) có 12 loài thuộc 11 giống, 5 họ; lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 8 loài thuộc 3 giống, 3 họ. Đặc điểm phân bó thành phần loài động vật đáy ở hạ lưu sông Hiếu theo không gian cho thấy ở ngã ba Gia Độ có số lượng loài cao nhất với 27 loài, tiếp đến là làng Mai Xá Chánh 22 loài, tại bến đò phường 4 có 21 loài, làng An Lạc 20 loài và thấp nhất là làng Đồng Lai với 13 loài.
Thành phần loài động vật đáy ở hạ lưu sông Hiếu khá phong phú, có hệ số gần gũi cao nhất với thành phần loài động vật đáy ở khu vực động Phong Nha, tỉnh Quảng Bình và tính tương đồng giảm dẫn so với thành phần loài động vật đáy ở sông Hương, sông Vu Gia - Thu Bồn và hạ lưu sông Hồng [30]. Ngoài ra, có thể kể đến các nghiên cứu của Lê Thu Hà, Nguyễn Xuân Quynh (2001) về thành phần ĐVKXS cỡ lớn ở suối Tam Đảo, Vĩnh Phúc [5]; Phan Thị Anh Đào và cộng sự (2006) về thành phần thủy sinh vật ở một số nhánh sông trong lưu vực sông Cầu [4]; nghiên cứu của Võ Văn Phú và cộng sự (2009) về ĐVKXS ở hồ Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam [13]; Hồ Thanh Hải (2006) về thành phần ĐVKXS ở nước hệ thống sông Vu Gia, sông Bung, sông Thanh, sông Cái Quảng Nam [I]. Tóm lại, có thê nói rằng, trong nhiều năm qua, rất nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu về ĐVKXS ở nước tại Việt Nam, không những nghiên cứu về phân loại học mà còn nhiều nghiên cứu tác động của các yếu tổ sinh thái lên QXSV, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học 13 công nghệ, góp phân bảo tồn, phát triển bền vững ĐDSH và kinh tế xã hội. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THÂN MÈM (MOLLUSC4) Ở VIỆT NAM Các công trình nghiên cứu chủ yếu có liên quan đến một số nhóm.
ĐVKXS nước ngọt thuộc ngành thân mềm từ sau năm 1945 được tóm lược như sau: Theo Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2002), các kết quả nghiên cứu về trai ốc nước ngọt Bắc Việt Nam từ trước năm 1970 đã được Đặng Ngọc Thanh công bố năm 1967 với nội dung tu chỉnh, tổng hợp về phân loại học. Đến năm 1971, có công trình của Nguyễn Xuân Quýnh về trai nước ngọt Bắc Việt Nam. Đến năm 1980, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã công bố 47 loài ốc thuộc 14 họ và 52 loài trai thuộc 6 họ ở miền Bắc Việt Nam. Có thé coi đây là công trình nghiên cứu đầy đủ nhất về trai ốc nước ngọt Bắc Việt Nam [22] Gan đây đã có một số công trình nghiên cứu về ốc nước ngọt, tiêu biểu như công trình nghiên cứu về họ ốc nhồi (Ampullariidae) ở Việt Nam.
Nội dung của nghiên cứu này cho thấy theo công bố của Đặng Ngọc Thanh (1980) đã ghi nhận hai loài ốc nhồi ở Bac Viét Nam la Pila conica va Pila polita. Các dẫn liệu sau này đã bổ sung thêm địa điểm phân bố ở phía Nam của hai loài trên. Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2003) đã xác định thành phần loài ốc Ampullariidae ở Việt Nam gồm 2 giống Pila và Pomacea với 5 loài và đưa ra khóa định loại đến loài của 5 loài thuộc họ ốc nhồi Ampullariidae ở Việt Nam [20], [21], [22] Về họ ốc vặn (Viviparidae: Gastropoda), Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (2004) đã công bố 9 loài thuộc 5 giống ốc vặn ở Việt Nam. Các tác giả cũng đưa ra khóa định loại, bàn luận về phân loại học và xác định vùng phân bố 14 của từng loài ốc vặn Viviparidae [24].
Đến năm 2004, Đặng Ngọc Thanh và cộng sự đã xác định danh sách các loài trai, ốc nước ngọt Việt Nam bao gồm 138 loài thuộc 63 giống, 21 họ với số loài có chiều hướng giảm nhưng số giống lại tăng lên so với những công bố trước đó. Trong đó, đã bỏ sung loài hến Polymesoda, tu chỉnh lại về phân loại học họ ốc nhồi Ampullariidae và ốc vặn Viviparidae. Các tác giả trên cũng lưu ý việc thu mẫu bổ sung ở Tây Bắc, Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Tây Nguyên cần được chú ý nhiều hơn [22] Đỗ Văn Tứ và Hoàng Thị Thanh Nhàn (2013) đã phân tích, đánh giá và đưa ra một số nhận định về tình trạng bảo tồn các loài trai nước ngọt (Bộ Unionoida) ở Việt Nam, cụ thể là với khoảng 50% số loài bị đe dọa, trai nước ngọt Việt Nam sẽ trở thành nhóm loài thân mềm nước ngọt bị đe dọa cao nhất thế giới. Các tác giả cũng khuyến cáo cần có nhiều nghiên cứu hơn nữa để bé sung thông tin cho tắt cả những loài trai nước ngọt bị đe dọa và thiếu dữ liệu [28].
Nghiên cứu theo hướng đánh giá sự ô nhiễm môi trường nước qua sự phân bố của động vật đáy của Dương Trí Dũng và Huỳnh Thị Quỳnh Như (2013) đã phát hiện được 28 loài động vật đáy thuộc 15 họ, trong đó lớp Bivalvia và Gastropoda có số loài nhiều nhất. Kết quả cho thấy rạch Sang Trắng luôn diễn ra ô nhiễm hữu cơ, môi trường bị ô nhiễm từ mức độ khá cho. đến nặng [3] Cũng trong thời gian này, tác giả Hoàng Đình Trung bước đầu đã xác định được 2§ loài Thân mềm thuộc 20 giống, 13 họ, 5 bộ và 2 lớp ở sông Hương, thành phố Huế: Lớp Chân bụng (Gastropoda) có 17 loài thuộc 15 giống, 8 họ, 2 bộ; lớp Hai mảnh vỏ (Bivalvia) có 11 loài thuộc 5 giống, 5 họ, 3 bộ. Tác giả đã xác định thành phân loài thân mềm ở sông Hương có quan hệ 15 gần gũi cao nhất với thành phần loài DVD 6 hạ lưu sông Hiếu, Quảng trị và tính tương đồng giảm dần so với thành phần loài ĐVĐ ở sông An Cựu, hồ Tây, sông Vu Gia - Thu Bồn, động Phong Nha và hạ lưu sông Hồng [32].
Nhu vậy, có thẻ thấy, đã khá nhiều công trình nghiên cứu thân mềm với các hướng nghiên cứu như: nghiên cứu thành phần loài, mức độ đa dạng, xác định mức độ gần gũi giữa khu vực nghiên cứu với các khu hệ khác, sử dụng thân mềm để đánh giá chất lượng môi trường. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện môi trường đến thành phần loài thân mềm ở khu vực miền Trung vẫn chưa nhiều. Đặc biệt, ở Quảng Nam chưa có tác giả nào nghiên cứu. KHAI QUAT DAC DIEM DIEU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.
Điều kiện tự nhiên a. Vị trí địa lý Tam Ky là thành phố tỉnh ly của tỉnh Quảng Nam, nằm cách thành phố Đà Nẵng 70 km về phía Nam, cách sân bay Chu Lai, cảng Kỳ Hà 25km, Khu công nghiệp và Nhà máy lọc dầu Dung Quất khoảng 40km về phía Bắc, gắn với QLIA, QL40 (đường Nam Quảng Nam) và kết nối với hệ thống giao. thông quốc gia gồm đường sắt, đường bộ, hàng không, đặc biệt Quốc lộ 14D, 14B, 14E nói các huyện miền biển, trung du, đồng bằng và duyên hải, gắn kết với các tỉnh Tây Nguyên, Lào và khu vực (Hình 1. Vị trí địa lý _ : 108°27'00” - 1083610” kinh độ Đông 15°30'20° - 15°36°10” vĩ độ Bắc.
- Phía Bắc _ : Giáp huyện Thăng Bình và Phú Ninh - Phía Nam _ : Giáp huyện Núi Thành - Phía Đông : Giáp biển Đông. - Phía Tây _ : Giáp huyện Phú Ninh. 16 BẢN ĐÔ PHÂN BÓ CÁC ĐƠN VỊ HÀNH CHÍNH TP.TAM KY-QUANG NAM tuyệt tran si ;@b. @ HUYỆN PHÙ NNH “GHI CHỦ ar gt Ea TEMA ir Pwocnn HUYEN NUITHANH HUYỆN PHU NINH Hình 1.
Bản đô phân bó các đơn vị hành chính thành phó Tam Kỳ Tổng diện tích tự nhiên 9.