ĐẶT VẤN ĐỀ 'Vườn quốc gia (VQG) Ba Vì trực thuộc sự quản lý của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, cách thủ đô Hà Nội 60km vẻ phía tây. Ba Vì nổi tiếng là vùng có hệ động thực vật rừng rất phong phú và đa dạng, trong đó có rất nhiều loài quý hiếm có trong sách đỏ Việt Nam, cần được bảo vệ và phát triển nguồn gen. Qua 15 nam xây dựng và phát triển Vườn Quốc Gia Ba Vì từng bước di vào ổn định về mặt tổ chức, xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các công trình nghiên cứu về điều tra cơ bản, về bảo tồn nguồn gen cây rừng, các dự án phát triển kinh tế vùng đệm, đẩy mạnh công tác quản Ïý bảo vệ. Hiện tại Vườn đã thu được những kết quả nhất định như: Rừng được bảo vệ và phát triển tốt, cảnh quan môi trường ngày càng được cải thiện, tập quán canh tác của người đân đã được cải thiện.
Đặc biệt một số dự án đã được thực hiện thành công như dự án 661 đã góp phân phủ xanh đất trống đôi trọc đồng thời phục hồi và bảo vệ hệ sinh thái của rừng đặc dụng. Ngày 10/9/2001, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ký quyết định số 418 QĐ/BNN ~ PTLN vẻ việc phê duyệt dự án đầu tư xây dựng Vườn sưu tập và lưu giữ nguồn gen các loài cây thuộc họ tre trúc, cau dừa, xương rồng tại 'Vườn Quốc Gia Ba Vì. Mục tiêu của dự án là tạo cho nơi đây một phòng tiêu bản sống mang đây ý nghĩa bảo tôn về các loài cây thuộc họ tre trúc, cau đừa, xương tổng. Các loài cây thuộc họ Xương rồng (Cactaceae) đã được du nhập vào nước ta cách đây khoảng 1 thế kỷ.
Xương rồng có rất nhiều tác dụng và đã được các nhà khoa học phương tây quan tâm chú ý từ rất lâu. Hiện nay tại 'Vườn sưu tập và lưu giữ nguồn gen xương rồng của VQG Ba Vì đã trồng được 1200 loài, có nguồn gốc ở nhiều nơi trên thế giới và trong nước. Xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, xương rồng ở đây đang bị sâu hại tấn công, trong đó FRETS nguy cơ lan rộng của một số sâu hại là khá lớn. sit dung nhiều biện pháp kỹ thuật đồng thời đã phối hợp với các cơ quan chuyên môn để tiến hành xử lý.
Tuy nhiên, kết quả đạt được chưa cao. Sau khi xử lý một thời gian sâu hại lại nhanh chóng phát sinh, phát triển. Do đây là vấn đề mới, các thông tin về sâu hại còn thiếu nên cần phải có những nghiên cứu khoa học cơ bản trong điều kiện cụ thể tại Vườn quốc gia Ba Vì để có cơ sở đưa ra các giải pháp đáng đán. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó của VQG, để tài: “Nghiên cứu đặc tính sinh học và đề xuất biện pháp phòng trừ một số loài sâu hại chính tại Vườn sưu tập, lưu giữ nguôn gen xương rồng (Cactaceae) Vườn Quốc Gia Ba Vì - Hà Tây” được thực hiện với hy vọng.
cung cấp những thông tin bước đầu vẻ sâu hại xương rồng, góp phần hoàn thành chức năng sưu tập, lưu giữ nguồn gen; bảo vệ tài nguyên một khu bảo. tồn của VQG Ba Vì. Chuong 1 TONG QUAN VAN BE NGHIEN CUU 1. Trên thế giới “Theo Wilson (1988) tổng số các loài sinh vật đã được biết trên trái đất là 1.000 loài, trong đó tỷ lệ các nhóm loài sinh vật như sau: Nhóm loài Tổng số loài v2) - là) các loài động vật - Côn trùng: 751.000 loài 53,15 70,66 - Các loài động vật khác: 281.44] |- Động vật nguyên sinh: | 30800loài| —ˆ 218] —— 2,90) = Thue vat bic cao: 248.500 loti | 17,59 - Nấm: 69:00 loài 4,88 26.900 loài 1,90 ~ Các loại vì Khuẩn: 4.000 loài 0,07 Tổng số —†m loài 100,00 Cho đến nay người ta dự đoán còn khoảng 3 - 4 triệu loài hoặc hơn nữa chưa được con người biet (iến, chủ yếu là những loài côn trùng sống ở vùng.
Như vậy côu trừng là lớp chiếm tỷ lệ lớn nhất trong giới động vật và có vai trò quan trong trong hệ sinh thái. Tuy nhiên cũng có một số lượng đáng kể các loài côn trùng thường xuyên gây ra những tác hại to lớn trong nông lâm nghiệp và sức khoẻ con người. Chính vì vậy mà đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về côn trùng. Tuy nhiên mãi tới cuối thế kỷ IXX và đầu thế kỷ XX những nghiên cứu về côn trùng mới được quan tâm phát triển.
Tir nam 1931 dén nay, tai các nước Pháp, Liên Xô cũ, Mỹ đã có nhiều tác giả cho ra hàng loạt những nghiên cứu vẻ côn trùng trên cả cây lá rộng, lá kim và cây cảnh. Xương rồng là cây xuất hiện từ rất sớm. Người ta cho rằng chúng xuất hiện vào cuối Đại Trung Sinh đầu Kỷ Thu Ba, đây là khoảng thời gian thực vật hạt kín phát triển mạnh. Chính vì vậy những nghiên cứu vẻ xương rồng và loài sâu hại xương rồng ở nước ngoài khá toàn diện và phong phú.
Chuster năm 1980 cho rằng có hai loài rệp là Pseudococcws maritimus và Pseudococcus citri gây hại mạnh trên thân cây xương rồng, chúng thường ẩn ở giữa múi, núm hoặc những nơi khô ráo trên thân. Ngoài ra ông còn tìm thấy có loài Nhện đỏ (Panonychus cửri) gây hại khá phổ biến cho xương rồng. Chúng thường chích vào thân tạo thành sẹo gây tổn hại và biến dạng cho cây, tạo điều kiện cho vi khuẩn, vỉ rút, nấm tấn công[20]. Tại bang Florida (Mỹ) năm 1981 Mac Carten đã có những nghiên cứu về côn trùng gây hại xương rồng thuộc chỉ Opuntia và phát hiện loài Neoroma sp.
là loài thường xuyên gây hại cho những loài này. Năm 1992 Slaba đã nghiên cứu và phát hiện loài rệp Ñispersia faleifera là loài ký sinh trên rễ xương rồng. Ông cũng phát hiện ra loài rệp Planocoecus sp. cũng là loài gây lại xương rồng rất phổ biến.
Loài này chủ yếu ăn thân cây. Khi mùa đông dến chúng thường di chuyển xuống rễ và hạn chế sống trên thân cây [20]. Trung Quốc là nước có nhiều đặc điểm gần giống với Việt Nam trong tài liệu “Phương pháp phòng trừ sâu bệnh hại cây cảnh” bệnh hại xương rồng, cảnh bao gồm: Bệnh thối gốc xương rồng, bệnh đốm than. Các loài sinh vật hại khác bao gồm: Tuyến trùng hại rễ và rệp vẩy.
Dương Tử Kỳ (2001) cũng đã giới thiệu các loài sâu bệnh hại xương rồng như rệp Døspis echinocacti, sâu rồm họ Lasiocampidae, Lymantridae. Nghiên cứu trong nước Các nghiên cứu về Côn trùng đã thực hiện ở nước ta chủ yếu tập trung vào nhóm côn trùng hại cây nông lâm nghiệp như nghiên cứu cơ bản về thành phân loài, đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài gây hại chính và một số thiên địch của chúng. Nghiên cứu vẻ sâu bệnh hại cây cảnh nói chung, sâu bệnh hại cây xương rồng nói riêng còn rất khiêm tốn. Kể từ khi được thành lập (1991) cho đến nay (2005) ở khu vực Vườn quốc gia Ba Vì mới chỉ có một số công trình nghiên cứu mang tính điều tra cơ bản sau : Năm 1992-1993 đoàn điểu tra phối hợp-giữa Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện điều tra qui hoạch rừng, đã tiến hành điều tra cơ bản về khu hệ động thực vật, quy hoạch đất đai, phân loại trạng thái rừng và có đánh giá sơ bộ về khu hệ côn trùng thể hiện qua báo cáo tổng kết công tác điều tra tháng 12-1993.
Đã thống kê có 44 loài thú, 115 loai chim, 49 loài bò sát, 27 loài lưỡng cư trong đó có 24 loài quý hiếm như: Gà Lôi trắng, Báo gấm, Cu li lớn, Gấu ngựa,. Năm 1993 đoàn điều tra cơ bản về côn trùng VQG-Ba Vì của Bộ môn Côn trùng Trường Đại học sử phạm Hà Ni én hành điều tra côn trùng thuộc bộ Cánh phấn để phục vụ công tác giảng dạy của trường. Đỉnh Đức Hữu nã¡: 2002 đã nghiên cứu phát hiện được 552 loài thuộc 364 giống 65 họ và 14 bộ côn trùng. Tác giả cho rằng côn trùng ở VQG Ba Vi rat da dạng, phong phú thể hiện trên các khía cạnh như đặc điểm hình thái, tập tính, phân bố.
Xương rồng là loài cây đã được du nhập vào nước ta và hiện nay đã phổ biến ở nhiều địa phương khắp toàn quốc. Thế nhưng nghiên cứu vẻ sâu hại xương rồng còn rất hạn chế. Hiện nay chưa có tài liệu nào nghiên cứu về sâu hại xương rồng được chính thức công bố. Chuong 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIEN CUU 2.
Mục tiêu nghiên cứu 'Trên cơ sở xác định được thành phân và mật độ loài sâu hại xương rồng và tìm ra những loài gây hại chính, nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của chúng để đề ra được các giải pháp phòng trừ thích hợp. Đối tượng nghiên cứu Các loài sâu hại trên 6 loài cây xương rồng chủ yếu sau đây: Euplorbia milli, Haageocereus icosagonoides, Opuntia dulsis, Opuntia anacantha, Echinopsis atacamensis, Opuntia longispina. (Dẫn ảnh trong phụ lục phân B trang 1) Dac điểm của loài Euphorbia milli: Cây trồng ở khu vực ngoài trời. Cây sinh trưởng tốt.
Mỗi cây thường có 3 đến 4 nhánh mọc từ gốc hoặc ngang thân của cây. Trên mỗi nhánh có các gai dai tir 1-2em được sắp xếp vòng quanh thân, lá mọc vòng xen giữa 2 gai. Cùng với sự sinh trưởng của cây lá già rụng đi, nên phần dưới thân hoàn toàn không có lá chỉ còn lại các gai, các lá non và bánh tẻ mọc cụm tập trung ở ngọn cây. Hoa nhiều màu sắc: hồng, phớt hỏng, vàng nhạt, phớt tím, phớt đỏ.
'Đạặc điểm của loài Huageocereus icosagonoides: Thân hình trụ ngắn, các gối gai lồi ra sắp xếp thẳng bàng nhau tạo lên những múi lồi hơi vận tựa như những múi khế. Mỗi gối gai có khoảng 10 gai màu hơi nâu, sắp xếp tỏa đều, chiều đài các gai từ 12cm. Hoa có đạng chuông nhỏ, đặc biệt một đặc điểm rất đặc trưng của loài là hoa thường đổi màu theo. thời gian trong ngày.
Dac diém cia loai Opuntia dulsis : Than trdn, nhỏ, có màu xanh chia làm nhiều nhánh, các lá chỉ bị tiêu giảm làm nhỏ lại chưa biến thành gai. Đặc điểm lá sắp xếp trên thân rất dày nên khi lá già rụng đi phân thân có dạng như các đốt xếp lại. Là cây mọng nước, cây sinh trưởng tốt. Đặc điểm của loài Opuntia anacantha: Than dạng bản mỏng trong tua như cái lá.
Mỗi gốc gồm nhiều thân. Một thân gồm 2-5 đoạn nối với nhau. Hai bên thân các gối gai xếp rất thưa, không lồi mà hơi lõm vào trong thân. Trên đỉnh sinh trưởng có từ 3-5 gối gai.