Chương 1 Luật Di sản văn hóa được ban hành tại Việt Nam (2013) “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” (Quốc hội, 2013). Ở Việt Nam, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được coi là hai bộ phận hữu cơ cấu thành kho tàng di sản văn hóa dân tộc. Chúng luôn gắn bó mật thiết, có tác động tương hỗ và tôn vinh lẫn nhau, nhưng vẫn có tính độc lập tương đối: Di c 12 sản văn hóa vật thể là cái hữu hình, tồn tại dưới dạng vật chất, chứa đựng những hồi ức sống động của loài người, là bằng chứng vật chất của các nền văn hóa, văn minh nhân loại; Di sản văn hóa phi vật thể là cái vô hình, chỉ được lưu truyền và biểu hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dạng bí quyết nghề nghiệp khác. Khái niệm du lịch dựa vào di sản Du lịch di sản văn hóa có nghĩa là đi du lịch để giải trí và học hỏi kiến thức trong môi trường xung quanh bao gồm những thứ do con người tạo ra như là kết quả của cuộc sống xã hội hiện tại trong hệ sinh thái (Feilden và Jokilehto, 1993).
Hall và Zeppel (1990) đề xuất các định nghĩa cho du lịch văn hoá và du lịch di sản. Trước đây, du lịch văn hóa gắn liền với những điểm thu hút trực quan, nghệ thuật trình diễn và các lễ hội, trong khi gần đây thì di sản văn hóa lại liên quan đến các di tích lịch sử, tòa nhà và đài kỷ niệm. Du lịch di sản được gọi là du lịch trải nghiệm vì du khách thường muốn đắm mình trong môi trường lịch sử và trải nghiệm. Du lịch di sản được mô tả là một hoạt động kinh tế liên quan đến việc sử dụng các tài sản di truyền và văn hoá xã hội để thu hút khách du lịch (Fyall và Garrod, 1998).
Du khách hài lòng với các điểm đến di sản văn hoá có xu hướng mở rộng thời gian lưu lại và quay trở lại. Fyall và Garrod (1998) tin rằng du lịch văn hoá là một loại hình hoạt động kinh tế, nhờ di sản văn hóa, nhằm kích thích nhu cầu du lịch. Tuy nhiên, Poria và các cộng sự (2001) tuyên bố rằng đó là một hiện tượng dựa trên động lực và nhận thức của du khách hơn là do các thuộc tính thu hút đó. Hơn nữa, Kowalczyk (2008, trang 13) chorằng du lịch văn hoá là "tất cả các hành vi du lịch gắn liền với sự quan tâm thực sự của họ đến các di sản văn hoá (tượng đài, văn hoá dân gian, địa điểm các sự kiện quan trọng .) và sự tham gia của họ vào cuộc sống văn hoá đương đại được hiểu rộng rãi ".
Trong nghiên cứu của Peterson (1994) về mối liên hệ giữa di sản và du lịch, đã cho thấy ba lý do chính để thăm các di tích lịch sử: Trải nghiệm thời gian và địa c 13 điểm khác nhau, học cách thưởng thức trải nghiệm về tâm trí, chia sẻ với người khác hoặc dạy cho trẻ biết lịch sử của di tích. Du lịch di sản cũng được miêu tả như là một phân khúc khách du lịch được đánh giá cao về nghệ thuật biểu diễn, triển lãm văn hoá và các điểm tham quan khác có liên quan. Sở Tài nguyên Lịch sử Virginia (1998) đã thống kê một số lợi ích của Du lịch văn hoá / di sản cung cấp cho du khách và người dân, cũng như các chính phủ: Một là, du lịch văn hóa / di sản bảo vệ các nguồn tài nguyên lịch sử, văn hoá và tài nguyên thiên nhiên trong các cộng đồng, thị xã và thành phố. Mọi người tham gia vào cộng đồng khi họ có thể liên quan đến di sản cá nhân, gia đình, cộng đồng, khu vực hoặc quốc gia.
Sự liên kết này thúc đẩy cư dân bảo vệ tài nguyên đã chia sẻ của họ và thực hiện việc quản lý tốt. Hai là, du lịch văn hoá / di sản giáo dục người dân và khách du lịch về lịch sử và truyền thống địa phương / khu vực. Thông qua nghiên cứu và phát triển các điểm di sản / văn hoá, người dân sẽ được thông tin tốt hơn về lịch sử và truyền thống địa phương / khu vực có thể được chia sẻ với khách du lịch. Ba là, du lịch văn hoá / di sản xây dựng các cộng đồng gần gũi, mạnh hơn.
Kiến thức về di sản cung cấp sự liên tục và bối cảnh cho các cộng đồng, nâng cao sự tôn trọng của người dân, tăng cường giá trị công dân, xây dựng niềm tự hào của cộng đồng, và cải thiện chất lượng cuộc sống. Bốn là, du lịch văn hóa / di sản thúc đẩy sức sống kinh tế và công dân của một cộng đồng hoặc khu vực. Lợi ích kinh tế bao gồm: việc tạo ra các công việc mới trong ngành du lịch, tại các điểm tham quan văn hoá và trong các cơ sở liên quan đến du lịch; Đa dạng hóa kinh tế trong ngành dịch vụ (nhà hàng, khách sạn / nhà nghỉ, giường ngủ, dịch vụ hướng dẫn viên du lịch), sản xuất (nghệ thuật và hàng thủ công, quà lưu niệm, ấn phẩm) và nông nghiệp (vườn đặc sản hoặc chợ nông dân); Khuyến khích sở hữu địa phương của các doanh nghiệp nhỏ; giá trị tài sản cao hơn; tăng doanh số bán lẻ; Và thu nhập thuế đáng kể. Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội”, “Bài chòi” 1.
Di sản văn hoá phi vật thể “Hát bội” 1. Lịch sử hình thành Tuồng còn gọi là hát bội, hát bộ, bộ môn nghệ thuật cổ điển và bác học bậc nhất Việt Nam. Là một loại văn nghệ trình diễn cổ truyền, được hình thành trên cơ sở ca, vũ, nhạc và các trò diễn xướng dân gian vốn có từ lâu đời và rất phong phú của dân tộc Việt Nam. Ðến cuối thế kỷ 18, Tuồng đã phát triển một cách hoàn chỉnh về mọi mặt từ kịch bản văn học đến nghệ thuật biểu diễn.
Trong thế kỷ 19, Tuồng đã có một giai đoạn phát triển cực thịnh trong lịch sử hình thành và phát triển của loại hình nghệ thuật này. Theo quyển “Sự tích và nghệ thuật hát bộ” của Đoàn Nông (1943), tác giả cho rằng hát bộ phát triển từ thời kỳ thôn ổ đến thời kỳ vương cung. Còn theo ông Diệp Văn Ký thì một số người Bình Định qua Tàu học hát bộ về lập gánh hát tại tỉnh nhà vì thế cho nên khắp Trung Kỳ các con hát đều hát theo giọng Bình Định. Trong quyển "Nghệ thuật Tuồng Bắc” tác giả Hoàng Chương khẳng định: “Tuồng là của Việt Nam, bắt nguồn từ những trò diễn xướng dân gian trên miền Bắc rồi lan dần vào Nam tiếp thu nhiều yếu tố nghệ thuật khác mới hình thành rõ nét là hát bội (có nơi gọi là hát bộ) và hát bội phổ biến rất mạnh ở Bình Định (quê hương hậu tổ Đào Tấn) và khắp miền Trung, sau lan dần vào Nam Bộ.
Và cũng từ miền Nam quay trở lại miền Bắc thành bộ môn tuồng mang phong cách Bắc”. (Nghê ̣thuâṭtuồng Bắc, NXB Sân khấu, 2000) Tuồng ra đời thế kỷ XVIII, năm 1792 tại Huế (theo tư liêu ảnh Baraw đăng lại trên Tạp chi Sử địa Sài Gòn, số 9-10 năm 1968. Ông Lê Văn Chiêu minh họa ảnh cảnh diễn Tuồng tại Huế, trong cuốn Nghệ thuật sân khấu Hát bội NXB Trẻ- 2007). Tuy nhiên, trước phát hiện của Baraw nhiều nơi đã diễn Tuồng, nhưng bằng chứng mới xác định hình ảnh ghi nhận sớm nhất tại Huế.
Tuồng Nam Bộ xuất hiện năm 1801, phát triển vào Nam Bộ cuối thế kỷ XIX, đầu XX, xuất hiện một số tác giả soạn Tuồng, ban hát mạnh. Tuồng Bắc Bộ lên chuyên nghiệp năm 1807, tại c 15 Nghệ An. Hiện còn kịch bản Tuồng của Trần Cao Khải, Phan Bội Châu, một số cá nhân giữ tư liệu Tuồng Bắc. Đầu thế kỷ XX, Tuồng phát triển ra Bắc, xuất hiện một số ban hát diễn ở làng quê Bắc Bộ: Hải Dương, Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An.Sách cổ ghi Tuồng xuất hiện đầu tiên ở xứ Bắc diễn các vở: Vương mẫu hiếu bàn đào, Mười hai vị thần thánh, Sơn hậu, Giác Oan.
Qua nhiều nguồn tư liệu sát thực, chứng minh: Tuồng hình thành từ một trò diễn xướng dân gian tiến lên sân khấu, ra đời cuối thế kỷ XVIII, với các mốc thời gian như sau: - Tuồng ra đời đầu tiên 1792 tại Huế. - Tuồng Nam Bộ xuất hiện năm 1801. - Tuồng Bắc Bộ lên chuyên nghiệp năm 1807. - Tuồng Bình Định năm 1867, khởi nghiệp từ Đào Tấn.
Tuồng Chèo Xứ Bắc cùng trên cả nước, chỉ xuất hiện khi hoàn chỉnh nền thơ ca, văn học Việt Nam rực rỡ khoảng cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX. Đây là điều kiện tiên quyết đặt lời vào bài ca: làn, điệu Tuồng Chèo bằng nhiều thể thơ, văn (Tuấn Giang, 2013). Chúng ta biết rằng trong cùng thời kỳ này tại vùng đồng bằng Bắc Bộ còn có Chèo và Múa Rối. Tuy nhiên, hai loại hình nghệ thuật kể trên chỉ tồn tại trong khu vực nông thôn ở miền Bắc Việt Nam, không phổ biến trên quy mô toàn quốc như Tuồng.
Ngày nay môn nghệ thuật này vẫn được coi là “quốc hồn, quốc túy” của người Việt, sánh như Kinh kịch của Trung Quốc hay kịch Noh của Nhật Bản. Các giai đoạn phát triển của “Hát bội” Giai đoạn Hát bội miền Bắc Hát bội miền Hát bội miền Nam Trung Thế kỉ 19 đến Diễn ở làng quê, lễ Ra đời phát triển Tuồng độc tôn, rực năm 1945 hội Đình làng, nhiều mạnh, theo rỡ trên mảnh đất đội Tuồng tồn tại nhiều nhà Phương Nam, phát đời này qua đời khác nghiên cứu, sử triển mạnh ở Sài. Xứ Bắc phát triển sách chép do Gòn – Gia Định c 16 Giai đoạn Hát bội miền Bắc Hát bội miền Hát bội miền Nam Trung Tuồng mạnh, nhưng Đào Duy Từ xuống một số tỉnh thiếu tác giả tên tuổi. soạn ra truyền đồng bằng Nam Bộ.
dậy vàothế kỷ XVII. 1945 đến 1954 Nhiều nơi cấm Tuồng Miền Có hai loại nghệ (Dưới chính thể Tuồng, Cải lương Trung phát triển thuật phát triển: Ca Nhà nước Việt cho là của đế quốc mạnh ngay từ nhạc tài tử và Nam dân chủ phong kiến. đầu cuộc kháng Tuồng.