Kết Quả Vi Phẫu Điều Trị Thoát Vị Đĩa Đệm Cột Sống Thắt Lưng Tại Bệnh Viện Trung Ương Thái Nguyên

Kết quả vi phẫu điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên cho thấy hiệu quả cao, giảm đau và phục hồi nhanh chóng.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Ngoại khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn bác sĩ nội trú

2019

89
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu tập trung vào kết quả vi phẫu điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Mục tiêu chính là mô tả đặc điểm lâm sàng và hình ảnh cộng hưởng từ (MRI) ở nhóm bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp vi phẫu, đồng thời đánh giá hiệu quả của phương pháp này từ tháng 01/2016 đến tháng 06/2019. Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là bệnh lý phổ biến, chiếm 80% các trường hợp đau thắt lưng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống.

1.1. Bối cảnh và tầm quan trọng

Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng là nguyên nhân chính gây đau thắt lưng và đau thần kinh tọa. Phương pháp vi phẫu được áp dụng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ năm 2016, mang lại nhiều ưu điểm như đường mổ nhỏ, giảm thiểu tai biến và thời gian hồi phục. Nghiên cứu này nhằm đánh giá hiệu quả và đóng góp vào việc nâng cao chất lượng điều trị bệnh lý này.

II. Đặc điểm giải phẫu và cơ chế bệnh sinh

Cột sống thắt lưng gồm 5 đốt sống, đóng vai trò quan trọng trong việc chịu tải trọng và vận động. Đĩa đệm là cấu trúc mềm dẻo, gồm bao xơ, nhân nhầy và vùng trung gian. Sự thoái hóa của đĩa đệm dẫn đến thoát vị đĩa đệm, gây chèn ép rễ thần kinh và các triệu chứng đau. Cơ chế bệnh sinh liên quan đến sự rách bao xơ và thoát vị nhân nhầy, gây viêm và đau rễ thần kinh.

2.1. Cấu trúc đĩa đệm

Đĩa đệm gồm ba phần chính: bao xơ, nhân nhầy và vùng trung gian. Bao xơ được cấu tạo từ các sợi collagen, trong khi nhân nhầy có tính chất đàn hồi cao, giúp hấp thụ lực và phân tán áp lực. Sự thoái hóa của đĩa đệm là nguyên nhân chính dẫn đến thoát vị đĩa đệm.

2.2. Cơ chế thoát vị đĩa đệm

Thoát vị đĩa đệm xảy ra khi nhân nhầy thoát ra khỏi bao xơ do rách hoặc thoái hóa. Khối thoát vị chèn ép vào rễ thần kinh, gây đau và viêm. Các chất trung gian như proteoglycan và interleukin-6 đóng vai trò quan trọng trong quá trình viêm và đau rễ thần kinh.

III. Phương pháp vi phẫu và kết quả điều trị

Phương pháp vi phẫu được áp dụng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ năm 2016, mang lại nhiều ưu điểm như đường mổ nhỏ, giảm thiểu tổn thương mô và thời gian hồi phục nhanh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công cao, giảm đáng kể các triệu chứng đau và phục hồi chức năng vận động. Các biến chứng sau phẫu thuật như thoát vị tái phát và tổn thương rễ thần kinh được kiểm soát tốt.

3.1. Quy trình vi phẫu

Quy trình vi phẫu bao gồm việc mở cửa sổ xương, lấy khối thoát vị và giải phóng rễ thần kinh. Phương pháp này giúp giảm thiểu tổn thương mô xung quanh và đảm bảo phẫu trường ổn định. Thời gian phẫu thuật và nằm viện được rút ngắn đáng kể so với phương pháp mở truyền thống.

3.2. Kết quả điều trị

Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành công của vi phẫu đạt trên 90%, với sự cải thiện rõ rệt về điểm đau (VAS) và chức năng vận động. Các biến chứng như thoát vị tái phát và tổn thương rễ thần kinh được ghi nhận ở mức thấp, chứng tỏ hiệu quả và an toàn của phương pháp này.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu khẳng định hiệu quả của phương pháp vi phẫu trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên. Phương pháp này không chỉ giảm thiểu các biến chứng mà còn rút ngắn thời gian hồi phục, cải thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng rộng rãi phương pháp vi phẫu tại các cơ sở y tế khác.

4.1. Ý nghĩa thực tiễn

Nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học về hiệu quả của vi phẫu trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, góp phần nâng cao chất lượng chẩn đoán và điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa. Phương pháp này cũng giúp giảm chi phí điều trị và thời gian nằm viện, mang lại lợi ích kinh tế cho bệnh nhân và hệ thống y tế.

02/03/2025
Luận văn thạc sĩ kết quả vi phẫu điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại bệnh viện trung ương thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Đặc điểm giải phẫu và cơ chế bệnh sinh của bệnh thoát vị đĩa đệm 1. Đặc điểm giải phẫu cột sống 1. Thân đốt sống thắt lưng Cột sống thắt lưng có 5 đốt sống, với đặc điểm: - Thân đốt sống rất to và chiều ngang rộng hơn chiều trước sau. Ba đốt sống thắt lưng cuối có chiều cao ở phía trước thấp hơn phía sau nên khi nhìn từ phía bên trông như một cái chêm [3], [8] - Chân cung (cuống sống) to, khuyết trên của chân cung nông, khuyết dưới sâu.

- Mỏm ngang dài và hẹp, mỏm gai rộng, thô, dày, hình chữ nhật đi thẳng ra sau. - Mặt khớp của mỏm khớp nhìn vào trong và về sau, mặt khớp dưới có tư thế ngược lại.1: Giải phẫu đốt sống thắt lưng nhìn từ trên xuống [58] Đây là đoạn cột sống đảm nhiệm chủ yếu các chức năng của cả cột sống, đó là chức năng chịu tải trọng và chức năng vận động. Các quá trình bệnh lý liên quan đến yếu tố cơ học thường hay xảy ra ở đây, do chức năng vận động bản lề, nhất là ở các đốt cuối L4, L5 [47]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 4 Đĩa đệm Cột sống bao gồm 24 đơn vị vận động và mỗi đơn vị bao gồm 2 thân đốt sống và đĩa đệm nằm giữa.

Về tổng thể, nếu không tính đến cột sống cùng - cụt, đĩa đệm chiếm 1/5 chiều dài cột sống cổ, 1/5 chiều dài cột sống ngực và khoảng 1/3 chiều dài cột sống thắt lưng[7]. Đĩa đệm cột sống gồm nhiều cấu trúc sụn góp phần vào cấu trúc mềm dẻo và chịu lực của cột sống. Gồm có 3 vùng: bao xơ đĩa đệm, nhân nhày và vùng trung gian chuyển tiếp. Phần ngoài bao xơ được cung cấp bởi mạng lưới mao mạch tham gia nuôi dưỡng dây chằng và tổ chức mô mềm xung quanh.

Vùng khác của đĩa đệm được nuôi dưỡng dựa trên sự thẩm thấu qua đĩa sụn tiếp [9]. Mặc dù các tế bào tương đồng như của sụn khớp, đĩa đêm vẫn có những cấu trúc và tính chất chuyển hóa riêng. Tỷ trọng tế bào của đĩa đệm thấp hơn so với của sụn khớp và đĩa đệm cho thấy quá trình thoái hóa diễn ra sớm hơn bất kỳ tế bào nào trong cơ thể [3]. Đĩa đệm nằm trong khoang gian đốt bao gồm: mâm sụn, bao xơ đĩa đệm và nhân nhầy.

Các đường kính của đĩa đệm bằng các đường kính của thân đốt sống tương ứng. Chiều cao của đĩa đệm tăng dần từ đoạn cổ đến đoạn cùng [47].2: Cấu trúc đĩa đệm [58] Mâm sụn: là cấu trúc thuộc về thân đốt sống nhưng nó có liên quan chức năng dinh dưỡng trực tiếp với đĩa đệm. Nó đảm bảo dinh dưỡng cho khoang gian đốt nhờ lỗ sàng ở bề mặt thân đốt và lớp canxi dưới mâm sụn giúp vận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 5 chuyển phần lớn những chất liệu chuyển hóa từ khoang tủy của thân đốt sống theo kiểu khuếch tán [7]. Vòng sợi: gồm nhiều vòng sơ sụn đồng tâm được cấu tạo bằng những sợi sụn rất chắc và đàn hồi, đan ngoặc với nhau kiểu xoắn ốc.

Bao lấy nhân nhày tạo nên chu vi ngoài của đĩa đệm và được chia ra làm 2 vùng: vùng chứa collagen ở phía ngoài và vùng chuyển tiếp phía trong, gần với nhân nhày. Bao xơ được tập hợp bởi nhiều lớp xơ sụn đồng tâm chồng lên nhau, ở mỗi lớp, các sợi đi theo hướng xoắn ốc tạo một góc chếch khoảng 30 độ lên trên hoặc xuống dưới. Hai lớp sát nhau sẽ có góc ngược hướng nhau (tạo nên hệ thống sợi dạng lưới).3: Đĩa đệm gian đốt sống [41] Nhân nhầy: là di tích của dây sống, có hình cầu hoặc bầu dục, nằm ở khoảng nối 1/3 giữa với 1/3 sau của đĩa đệm, cách mép ngoài của vòng sợi 3 - 4 mm, chiếm khoảng 40% bề mặt của đĩa đệm cắt ngang. Nhân nhày nằm ở trung tâm đĩa đêm, trong bao xơ nhưng không ở chính giữa mà hơi lệch về phía sau.

Về đại thể, nhân nhày mềm, độ dẻo cao, màu hơi vàng. Về mặt vi thể, nhân có cấu trúc lưới, phía ngoài là các sợi collagen, ở giữa là chất gelatin dạng sợi có đặc tính ưa nước, trong đó có chất keo glucoprotein có chứa nhiều nhóm sulphat có tác dụng hút và ngậm nước, đồng thời ngăn cản sự khuếch tán ra ngoài. Do đó nhân nhầy có tỉ lệ nước rất cao, cao nhất lúc mới sinh (90%) và giảm dần theo tuổi, đảm bảo nhân nhầy có độ Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 6 căng phồng và giãn nở rất tốt. Tuy nhiên đến năm 50 tuổi sẽ chỉ còn khoảng 70% nước [8].

Nhân nhầy giữ vai trò hấp thu chấn động theo trục thẳng đứng và di chuyển như một viên bi nửa lỏng trong các động tác gấp duỗi, nghiêng và xoay của cột sống. Khi cột sống vận động (nghiêng, cúi, ưỡn) thì nhân nhầy sẽ di chuyển dồn lệch về phía đối diện và đồng thời vòng sợi cũng chun giãn. Đây cũng là một trong các nguyên nhân làm cho nhân nhầy ở đoạn cột sống cổ dễ lồi ra sau [26], [58]. Nuôi dưỡng của đĩa đệm: Từ khi sinh ra cho đến khoảng 8 tuổi, đĩa đệm được nuôi dưỡng bởi một số mạch cấp máu cho cả đĩa sụn tiếp cũng như bao xơ.

Ở độ tuổi cao hơn, sự nuôi dưỡng hoàn toàn dựa vào quá trình thẩm thấu. Có hai cách, thẩm thấu từ thân đốt sống qua đĩa sụn tiếp vào đĩa đệm và ngược lại, thẩm thấu từ bao xơ (nhờ một số mạch máu đến bao xơ) vào đĩa đệm [12]. Thần kinh chi phối Dây chằng dọc trước Đĩa đệm Dây chằng dọc sau Hình 1.4 Tương quan đĩa đệm, các dây chằng và thần kinh cảm giác[12] 1. Dây chằng Cột sống được bao phủ phía trước và phía sau theo chiều dài của nó bởi dây chằng dọc trước và dây chằng dọc sau.

Dây chằng dọc sau được mô tả gồm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 7 2 lớp sâu và nông. Dây chằng dọc trước và dọc sau đều đóng góp vào độ vững, mức độ di động và mềm dẻo của cột sống [7]. Dây chằng dọc trước được tạo nên bởi các sợi dọc dày đặc. Những sợi này dính chặt và các đĩa gian đốt sống và các rìa lồi lên của thân đốt sống nhưng không dính và phần giữa của các thân đốt sống.

Phần giữa các thân đốt sống dây chằng dày lên để lấp vào vùng lõm ở mặt trước các thân đốt, làm cho mặt trước cột sống phẳng hơn. Nó được tạo nên bởi vài lớp sợi khác nhau về chiều dài nhưng đan cài chặt chẽ với nhau. Những sợi nông nhất, là những sợi dài nhất và trải dài giữa bốn hoặc năm đốt sống. Những sợi sâu hơn nằm ngay bên dưới trải dài giữa hai hoặc ba đốt sống và lên đốt sống kế cận.

Ở mặt bên của các thân đốt sống, dây chằng được tạo nên bởi một ít sợi ngắn đi từ đốt sống này đến đốt sống kế tiếp, được ngăn cách khỏi chỗ lỏm giữa các thân đốt sống bởi những lỗ cho mạch máu chạy qua [4]. Dây chằng dọc sau nằm trong ống sống và trải dài dọc mặt sau của các thân dốt sống, từ màng mái tới xương cùng, rộng hơn ở trên và dày ở vùng ngực hơn là ở các vùng cổ và thắt lưng. Các sợi mịn và bóng của nó gắn chặt với các đĩa gian đốt sống, các tấm sụn trong đầu xương và rìa lồi của các thân đốt sống liền kề, nhưng ở giữa những chỗ bám này và được ngăn cách với thân đốt sống bởi các tĩnh mạch sống nền và các nhánh tĩnh mạch dẫn máu từ các tĩnh mạch sống nền [8]. Dây chằng dọc sau đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành khối thoát vị đĩa đệm.

Dây chằng dọc sau chạy dọc từ sọ tới xương cùng, làm thành một lá chắn ngăn không cho đĩa đệm thoát vị ra sau. Dây chằng vàng: Dây chằng vàng phủ phần sau của ống sống và bám từ cung đốt này đến cung đốt khác và tạo nên một bức vách thẳng ở phía sau ống sống để bảo vệ tuỷ sống và các rễ thần kinh. Chiều dày của dây chằng vàng tăng dần từ trên Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 8 xuống dưới. Dây chằng vàng có tính đàn hồi, khi cột sống cử động, sẽ góp phần kéo cột sống trở về nguyên vị trí [20].

Sự phì đại của dây chằng vàng cũng là một nguyên nhân gây đau kiểu rễ vùng thắt lưng cùng. Các dây chằng khác: Dây chằng bao khớp: bao quanh giữa khớp trên và dưới của hai đốt sống kế cận [16]. Dây chằng trên gai và dây chằng liên gai có chức năng liên kết các mỏm gai với nhau [22].4 Rễ thần kinh Mỗi tầng đĩa đệm có một đôi rễ thần kinh đi ra từ bao màng cứng qua lỗ liên hợp. Các rễ phía sau dẫn truyền các sợi cảm giác từ thần kinh sống đến tủy sống, rễ phía trước chủ yếu mang các sợi vận động và dọc theo đó có những sợi cảm giác, từ tủy sống đến rễ thần kinh.

Các rễ phía sau và phía trước ở hai bên được bao bọc bởi bao rễ trong ống thần kinh. Các thụ thể của rễ trước nằm ở phần trước của tủy sống trong khi đó các thụ thể của các rễ phía sau nằm ở vùng hạch rễ phía sau. Vùng hạch phía sau thường nằm ở phần tận của rễ sau trong phần đỉnh của bao rễ, hướng xuống dưới đến chân cung và gần đến nách rễ. Hạch của rễ có đường kính tăng dần từ L1 đến L5 [1].

Cơ chế bệnh sinh thoát vị đĩa đệm Vai trò và phương thức hoạt động của đĩa đệm Đĩa đệm hoạt động như một vật thể hấp thụ lực, khi tác động lên cột sống. Các đĩa đệm có 2 chức năng chính: - Phân tán lực nén, khả năng biến dạng cho phép đĩa đệm phân tán lực trên toàn bộ mặt khớp của thân sống chứ không tập trung trên vùng ngoại vị của thân sống [15]. - Cho phép sự di chuyển đa mặt phẳng giữa các thân sống kế tiếp nhau. Sự di chuyển này cùng với khả năng di chuyển của các diện khớp trên, dưới cho phép Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn 9 cột sống cổ có biên độ chuyển động lớn.

Nhờ vào khả năng biến dạng đặc biệt của mình, đĩa đệm rất khó bị nén ép. Bất cứ lực nào tác động lên nó đều được phân tán đến vòng sợi và mặt khớp của thân sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kết quả vi phẫu điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên" cung cấp cái nhìn chi tiết về hiệu quả của phương pháp vi phẫu trong điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng. Nghiên cứu này tập trung vào các kết quả lâm sàng, tỷ lệ thành công, và những lợi ích mà bệnh nhân nhận được sau khi thực hiện phẫu thuật. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các bác sĩ, chuyên gia y tế, và bệnh nhân đang tìm hiểu về các phương pháp điều trị tiên tiến. Để mở rộng kiến thức về các kỹ thuật phẫu thuật liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu đặc điểm lâm sàng hình ảnh cộng hưởng từ kết quả phẫu thuật can thiệp tối thiểu điều trị thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, Luận án tiến sĩ ứng dụng cộng hưởng từ có nén trong chẩn đoán và kết quả phẫu thuật giải phóng chèn ép qua ống banh điều trị hẹp ống sống thắt lưng do thoái hoá, và Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng vi phẫu thuật giải ép thần kinh trong điều trị đau dây v. Những tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu sâu hơn về các phương pháp chẩn đoán và điều trị hiện đại liên quan đến cột sống.