Tổng quan nghiên cứu

Sông Trường Giang có chiều dài 67 km, đóng vai trò là tuyến giao thông thủy huyết mạch, trục tiêu thoát lũ và nguồn cung cấp nước trọng yếu cho 18 xã thuộc 4 huyện, thành phố gồm Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ và Núi Thành, tỉnh Quảng Nam với quy mô dân số vùng phụ cận năm 2015 đạt 151.277 người. Tuy nhiên, áp lực gia tăng dân số cùng tốc độ phát triển kinh tế nhanh chóng đã tạo sức ép nặng nề lên môi trường lưu vực. Diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ tăng mạnh lên tới 1.075,55 ha, kết hợp với hoạt động xả thải từ khoảng 50 cụm công nghiệp và canh tác nông nghiệp trên 33,2% diện tích đất tự nhiên đã khiến nguồn nước mặt suy giảm chất lượng và gia tăng bồi lắng lòng sông.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá có hệ thống hiện trạng chất lượng nước mặt và trầm tích đáy sông Trường Giang theo cả chỉ tiêu riêng lẻ lẫn chỉ tiêu tích hợp; phân tích các nguồn thải tác động chính từ hoạt động kinh tế - xã hội; từ đó đề xuất các nhóm giải pháp quản lý và kỹ thuật nhằm phục hồi, cải thiện chất lượng môi trường nước. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 67 km chiều dài sông Trường Giang với chuỗi dữ liệu khảo sát thực địa 4 đợt quan trắc thu thập trong giai đoạn 2016-2017. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn, cung cấp cơ sở dữ liệu định lượng phục vụ công tác quy hoạch, hướng tới mục tiêu giảm thiểu trên 40% tải lượng ô nhiễm hữu cơ và bảo vệ an toàn hệ sinh thái vùng đệm Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự tích hợp giữa lý thuyết đánh giá chỉ số chất lượng nước tương đối tổng quát ReWQI của GS.TS. Phạm Ngọc Hồ (2015) và lý thuyết động thái lan truyền, lắng đọng chất ô nhiễm trong thủy vực cửa sông ven biển. Các khái niệm nền tảng bao gồm: Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), Nhu cầu oxy hóa học (COD), Tổng chất rắn lơ lửng (TSS), nồng độ oxy hòa tan (DO) và các dạng tồn tại trao đổi, liên kết của kim loại nặng trong môi trường trầm tích đáy (F1 đến F5).

Hệ thống đánh giá đối chiếu trực tiếp với các văn bản quy chuẩn môi trường hiện hành của Việt Nam, bao gồm Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng trầm tích QCVN 43:2012/BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thiết lập mạng lưới khảo sát đồng bộ với cỡ mẫu gồm 20 điểm lấy mẫu nước mặt (ký hiệu NM1 đến NM20) và 20 điểm lấy mẫu trầm tích đáy (ký hiệu TT1 đến TT20) phân bố dọc 67 km chiều dài tuyến sông. Quy trình thu thập dữ liệu được triển khai theo phương pháp lấy mẫu đại diện định kỳ qua 4 đợt khảo sát (tháng 12/2016, tháng 4/2017, tháng 6/2017 và tháng 9/2017), tương ứng tổng số 80 mẫu nước và 80 mẫu trầm tích.

Mẫu nước mặt được thu thập ở độ sâu 20 cm theo tiêu chuẩn TCVN 6663-6:2008 và bảo quản theo TCVN 6663-3:2003. Mẫu trầm tích được lấy từ tầng mặt đến độ sâu 20 cm đáy sông bằng thiết bị gầu cơ học chuyên dụng theo tiêu chuẩn TCVN 6663-3:2000. Quy trình phân tích trong phòng thí nghiệm xác định 12 chỉ tiêu nước mặt (pH, độ mặn, DO, BOD5, COD, TSS, N-NH4+, N-NO3-, As, Pb, Hg, Coliform) và 6 chỉ tiêu trầm tích (As, Cd, Cu, Pb, Zn, Hg) bằng các phương pháp đo nhanh hiện trường, trắc quang và quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS. Phương pháp phân tích ReWQI được lựa chọn do tính ưu việt trong việc loại bỏ tính chủ quan khi gán trọng số và hạn chế triệt để hiệu ứng mơ hồ so với các chỉ số WQI truyền thống.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm đã làm sáng tỏ bức tranh môi trường sông Trường Giang qua các phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, áp lực xả thải từ nuôi trồng thủy sản là nguyên nhân hàng đầu gây suy thoái nguồn nước. Toàn vùng có 1.075,55 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản nước lợ, trong đó diện tích nuôi thâm canh chiếm 227 ha (21,11%) tập trung nhiều nhất tại huyện Núi Thành với 107 ha và huyện Thăng Bình với 65 ha. Mật độ nuôi tôm thẻ chân trắng đạt 90-120 con/m2 nhưng hầu hết các ao đầm đều xả trực tiếp nước thau rửa và bùn đáy chứa nhiều thức ăn dư thừa ra lòng sông mà không qua xử lý.

Thứ hai, hạ tầng xử lý nước thải công nghiệp và làng nghề còn nhiều bất cập. Toàn tỉnh Quảng Nam có khoảng 50 cụm công nghiệp nhưng chỉ có 3 đơn vị đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung với tổng công suất thiết kế khoảng 7.000 m3/ngày đêm. Trong số 144 cơ sở hoạt động ven sông, có tới 67 cơ sở (khoảng 46,5%) chưa xây dựng hệ thống xử lý đạt chuẩn.

Thứ ba, môi trường nước mặt bị ô nhiễm hữu cơ và dinh dưỡng cục bộ. Các chỉ tiêu BOD5, COD và N-NH4+ tại các vị trí tiếp nhận nguồn thải sinh hoạt và nước đầm tôm (như vị trí NM3 tại Bình Giang, NM11 tại Bình Nam) ghi nhận nồng độ vượt giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1 từ 1,2 đến hơn 2,3 lần, chỉ tiêu Coliform tại các khu dân cư tập trung vượt nhiều lần quy chuẩn.

Thứ tư, trầm tích đáy tích tụ kim loại nặng theo chiều dòng chảy. Hàm lượng các kim loại Cu, Zn, As, Pb có xu hướng tăng dần từ thượng nguồn ra các cửa biển Cửa Đại và Cửa An Hòa. Lượng bùn cát vận chuyển trong mùa lũ chiếm từ 75% đến 90% tổng lượng cả năm, kết hợp với hiện tượng giao thoa triều làm tăng tốc độ bồi lắng và lưu giữ kim loại nặng tại tầng đáy.

Thảo luận kết quả

Sự suy giảm chất lượng nước mặt bắt nguồn từ đặc tính thủy lực đặc thù của sông Trường Giang khi nối thông với biển ở hai đầu qua Cửa Đại và Cửa An Hòa. Vào mùa kiệt, dòng triều từ hai phía đẩy vào tạo nên một điểm dừng lưu tốc (vận tốc dòng chảy bằng 0) ở đoạn giữa sông thuộc huyện Thăng Bình, khiến khả năng lưu thông và tự làm sạch của thủy vực bị hạn chế nghiêm trọng.

Kết quả nghiên cứu này tương đồng với các công bố khoa học tại lưu vực sông Nhuệ - Đáy và sông Mê Kông, khẳng định quy luật tích lũy kim loại nặng tại các vùng bãi bồi, cửa sông ven biển do quá trình keo tụ khi nước ngọt gặp nước mặn. Diễn biến chất lượng nước và trầm tích được trực quan hóa hiệu quả thông qua hệ thống biểu đồ cột biểu diễn biến thiên nồng độ theo không gian và bảng phân cấp chỉ số ReWQI, giúp phản ánh trực quan các phân vùng chất lượng nước từ mức trung bình đến mức xấu.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm kiểm soát và từng bước cải thiện chất lượng môi trường sông Trường Giang, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Chuẩn hóa quy hoạch và quy trình kỹ thuật nuôi trồng thủy sản: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam cùng chính quyền địa phương cần tiến hành rà soát quy hoạch toàn bộ 1.075,55 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản. Bắt buộc 100% các cơ sở nuôi thâm canh trên diện tích 227 ha phải hoàn thành xây dựng hệ thống ao lắng và xử lý nước thải trước khi xả ra sông, lộ trình thực hiện hoàn thành trước năm 2025.
  2. Kiểm soát nghiêm ngặt và xử lý triệt để nước thải công nghiệp: Ban Quản lý các Khu kinh tế và Khu công nghiệp tỉnh yêu cầu 100% trong số 144 cơ sở sản xuất kinh doanh phải đầu tư vận hành hệ thống xử lý nước thải đạt QCVN 40:2011/BTNMT; đẩy nhanh tiến độ nâng tổng công suất xử lý nước thải tập trung lên trên 15.000 m3/ngày đêm giai đoạn 2024-2026.
  3. Ứng dụng công nghệ sinh thái đất ngập nước nhân tạo: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam chủ trì triển khai mô hình bãi lọc ngập nước dòng chảy bề mặt sử dụng các loài thực vật thủy sinh bản địa như thủy trúc, rau muống tại các cửa xả nước thải chính, đặt mục tiêu hấp thụ và giảm thiểu từ 40% đến 50% hàm lượng nitơ, photpho và kim loại nặng trong nước.
  4. Nạo vét khơi thông dòng chảy và hoàn thiện mạng lưới giám sát: UBND tỉnh Quảng Nam bố trí ngân sách nạo vét định kỳ 67 km lòng sông nhằm giải tỏa các điểm nghẽn bồi lắng, thu hồi diện tích mặt nước bị lấn chiếm trái phép, đồng thời lắp đặt 20 trạm quan trắc tự động liên tục phục vụ cảnh báo sớm môi trường nước đến năm 2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách: Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Nam cùng UBND các huyện ven sông sử dụng bộ số liệu 80 mẫu quan trắc để xây dựng kế hoạch bảo vệ môi trường lưu vực và phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường.
  2. Các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học: Các chuyên gia thuộc chuyên ngành Kỹ thuật Môi trường, Quản lý Môi trường và Khoa học Đất có thể tham khảo phương pháp luận ứng dụng chỉ số ReWQI và mô hình phân tích chuỗi tích lũy kim loại nặng trong trầm tích cửa sông nhiệt đới.
  3. Các doanh nghiệp hạ tầng và hộ nuôi trồng thủy sản: Các hợp tác xã nuôi tôm tại địa phương sử dụng tài liệu để thiết kế hệ thống tuần hoàn nước khép kín, bể lọc lắng sinh học, giúp giảm thiểu dịch bệnh và đạt các tiêu chuẩn chứng nhận nuôi bền vững.
  4. Các tổ chức phi chính phủ và dự án bảo tồn sinh thái: Nhóm chuyên gia thuộc các dự án bảo tồn biển Cù Lao Chàm và lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn khai thác dữ liệu để đánh giá tác động ô nhiễm liên vùng và đề xuất giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học.

Câu hỏi thường gặp

Đặc điểm thủy văn nào của sông Trường Giang ảnh hưởng lớn nhất đến sự phân tán chất ô nhiễm? Sông Trường Giang dài 67 km, kết nối thông biển qua hai cửa sông lớn là Cửa Đại và Cửa An Hòa. Vào mùa khô, chế độ bán nhật triều từ hai phía đẩy vào tạo ra điểm triều dừng ở khu vực giữa dòng, làm triệt tiêu lưu tốc và giảm đáng kể khả năng pha loãng tự nhiên, khiến các chất ô nhiễm bị lưu giữ lâu ngày.

Hoạt động nào phát thải lượng chất ô nhiễm hữu cơ lớn nhất vào lưu vực sông? Hoạt động nuôi trồng thủy sản nước lợ với tổng diện tích 1.075,55 ha, đặc biệt là 227 ha nuôi tôm thâm canh mật độ cao từ 90 đến 120 con/m2, là nguồn phát thải hữu cơ lớn nhất. Lượng phân tôm, thức ăn dư thừa và hóa chất xử lý hồ nuôi thường xuyên được xả thẳng ra lòng sông mà không qua xử lý.

Tại sao luận văn lại ứng dụng chỉ số ReWQI thay vì phương pháp WQI thông thường? Chỉ số chất lượng nước tương đối ReWQI của Phạm Ngọc Hồ (2015) xác định trọng số khách quan dựa trên khoảng biến thiên nồng độ so với quy chuẩn kỹ thuật, giúp loại trừ triệt để tính chủ quan và ngăn chặn sai số do hiệu ứng mơ hồ khi đánh giá chuỗi 12 thông số quan trắc tại 20 vị trí.

Mức độ tích tụ kim loại nặng trong trầm tích đáy sông phân bố như thế nào? Hàm lượng các kim loại nặng như Pb, As, Cu, Zn và Hg có xu hướng tăng dần từ thượng lưu về phía hạ lưu và các cửa biển. Quá trình lắng đọng phù sa mang theo 75% đến 90% lượng bùn cát mùa lũ khiến trầm tích đáy trở thành bể chứa tích lũy và tiềm ẩn nguy cơ tái giải phóng độc chất vào tầng nước mặt.

Giải pháp công nghệ nào được đánh giá là khả thi và kinh tế nhất cho địa phương? Mô hình bãi lọc đất ngập nước nhân tạo dòng chảy bề mặt trồng các loài thực vật thủy sinh như thủy trúc và rau muống là giải pháp tối ưu. Công nghệ này có chi phí đầu tư thấp, dễ vận hành tại khu vực nông thôn và có khả năng xử lý hiệu quả từ 40% đến 50% hàm lượng các chất ô nhiễm.

Kết luận

  • Luận văn đã cung cấp bộ dữ liệu khoa học toàn diện về chất lượng nước mặt và trầm tích đáy dọc 67 km sông Trường Giang thông qua 20 trạm quan trắc định kỳ 4 đợt.
  • Nhận diện chính xác các áp lực ô nhiễm trọng điểm bắt nguồn từ 1.075,55 ha đầm nuôi tôm và 67 cơ sở sản xuất công nghiệp ven sông chưa có công trình xử lý nước thải đạt chuẩn.
  • Ứng dụng thành công chỉ số ReWQI để phân vùng chi tiết hiện trạng môi trường nước mặt, tạo tiền đề định lượng cho các công tác quản lý tài nguyên lưu vực.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp chặt chẽ giữa quản lý hành chính, quy hoạch vùng nuôi an toàn và ứng dụng công nghệ sinh thái đất ngập nước nhân tạo.
  • Khuyến nghị các cơ quan quản lý triển khai lộ trình hành động giai đoạn 2024-2027 nhằm khơi thông dòng chảy, xử lý triệt để các nguồn thải và thúc đẩy sự phát triển bền vững cho vùng kinh tế ven biển Quảng Nam. Hãy liên hệ ngay với các đơn vị khoa học chuyên môn để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu và ứng dụng chuyển giao công nghệ xử lý môi trường.