MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài Việt Nam đang bƣớc vào thời kỳ đổi mới, cùng với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa. Tình trạng nghèo nàn lạc hậu đang dần đƣợc khắc phục. Đời sống vật chất và tinh thần của mọi ngƣời, mọi nhà đang ngày một nâng cao. Song xã hội càng phát triển thì các vấn đề tâm lý, tình cảm và đời sống xã hội càng nảy sinh phong phú và trở nên phức tạp hơn.
Từ những bức xúc không thể giải tỏa, con ngƣời xuất hiện những đòi hỏi, mong muốn đƣợc giải tỏa, chia sẻ những khó khăn tâm lý và tìm ra những giải pháp thích hợp. Hoạt động tham vấn xuất hiện và ngày càng phát triển nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội. HIV đã và đang là một vấn đề nổi cộm không chỉ trong một quốc gia mà ở tất cả các châu lục. Ở Việt Nam, tất cả 64 tỉnh, thành phố, trên 93% số huyện và hơn 50% xã/ phƣờng/thị trấn trong cả nƣớc đã có ngƣời nhiễm và ảnh hƣởng bởi HIV.
Tính hết tháng 8/2014, trên cả nƣớc đã ghi nhận có 220.846 trƣờng hợp nhiễm HIV hiện đang còn sống, trong đó 66.533 ngƣời chuyển sang AIDS. Trong số những ngƣời nhiễm và ảnh hƣởng bởi HIV thì phụ nữ nhiễm HIV đang là một nhóm đối tƣợng đặc biệt, nhận đƣợc nhiều sự quan tâm và chú ý của các nhà khoa học cũng nhƣ các nhà quản lý. Khi phụ nữ nhiễm HIV kéo theo nhiều vấn đề xã hội nhƣ tỷ lệ phụ nữ mang thai nhiễm HIV và trẻ em có HIV tăng lên nhanh chóng. Thái Nguyên hiện là một trong 10 tỉnh, thành phố có số ngƣời nhiễm HIV/AIDS đứng đầu trong cả nƣớc, tỷ lệ hiện nhiễm của tỉnh là 632 trƣờng hợp/100.
9/9 huyện/thị/thành với 178/180 xã/phƣờng phát hiện có ngƣời nhiễm HIV. Thái Nguyên hiện là một trong 10 tỉnh, thành phố có số ngƣời nhiễm HIV/AIDS đứng đầu trong cả nƣớc, tỷ lệ hiện nhiễm của tỉnh là 565 trƣờng hợp/100. 9/9 huyện/thị/thành với 178/180 xã/ phƣờng phát hiện có ngƣời nhiễm HIV. Tính đến ngày 30/9/2014, số ngƣời nhiễm HIV đƣợc quản lý là 7.368 trƣờng hợp, đã tử vong do AIDS 1.916 trƣờng hợp.vn) Tỷ lệ phụ nữ nhiễm HIV đang ngày càng cân bằng hơn so với tỷ lệ nam giới.
Theo báo cáo từ trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh thái nguyên đến tháng 9 năm 2014 có khoảng 1530 phụ nữ sống chung với HIV, trong đó có 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com khoảng 63 % phụ nữ nhiễm HIV từ bạn tình, chồng. Là một trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của các tỉnh miền núi phía bắc, với dân số 1,15 triệu ngƣời. Thái Nguyên có nhiều trƣờng đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và là nơi tập trung nhiều điểm khai thác khoáng sản, kim loại quý nên có nhiều lao động di cƣ biến động… Đây cũng là những lý do góp phần cho nguy cơ lây nhiễm HIV tại Thái nguyên tăng cao. Chính vì vậy, những nghiên cứu để hạn chế tình trạng HIV cũng nhƣ can thiệp trợ giúp ngƣời có HIV trong đó đặc biệt là phụ nữ nhiễm HIV/AIDS là rất có ý nghĩa thực tiễn.
Khi đã bị nhiễm HIV, phụ nữ phải đối mặt với nhiều gánh nặng cùng lúc nhƣ gánh nặng về sức khỏe, chăm sóc con cái, mất nguồn thu nhập và đặc biệt là bị ảnh hƣởng về tâm lý nặng nề nhƣ: bị trầm cảm; lo lắng, sợ hãi, khủng hoảng, tự kì thị; bị phân biệt đối xử; bị kì thị, xa lánh của ngƣời thân, bạn bè, cộng đồng. Do vậy họ rất cần có sự chia sẻ cũng nhƣ tham vấn trợ giúp để vƣợt qua khó khăn tâm lý để tiếp tục lao động, tham gia các hoạt động xã hội cũng nhƣ thực hiện chức năng của ngƣời phụ nữ, ngƣời mẹ trong gia đình. Thông qua tham vấn phụ nữ nhiễm HIV/AIDS đƣợc nâng cao hiểu biết, sức khỏe về HIV đồng thời vƣợt qua đƣợc những lo lắng, mặc cảm, giảm bớt tự kỳ thị, lấy lại sự tự tin để vƣơn lên hòa nhập cuộc sống, tiếp cận với các cơ hội giáo dục, y tế việc làm để tạo thu nhập cho gia đình và nuôi dƣỡng con cái. Tuy nhiên, hiện nay tham vấn chƣa đƣợc sử dụng một cách khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS nói chung và ở Thái nguyên nói riêng.
Hiện đã có một số nghiên cứu liên quan tới phụ nữ nhiễm HIV/AIDS, tuy nhiên mới chỉ đi sâu vào mô tả cuộc sống của họ. Những nghiên cứu về hoạt động tham vấn của phụ nữ nhiễm HIV hầu nhƣ chƣa có và chƣa đƣợc đề cập một cách hệ thống dƣới góc độ nhƣ một công cụ quan trọng của công tác xã hội nhằm trợ giúp những ngƣời yếu thế trong đó có Phụ nữ nhiễm HIV/AIDS. Phát triển Công tác xã hội nhƣ một nghề đang là một định hƣớng của chính phủ Việt Nam đƣợc thể hiện qua Quyết định 32/2010/QĐ-TTg đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ ký ngày 25/3/2010. Từ thực tiễn áp dụng khoa học của công tác xã hội nhiều nƣớc trên thế giới đã cho thấy những kiến thức kỹ năng của công tác xã hội 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong đó có tham vấn nếu đƣợc áp dụng một cách khoa học, chuyên nghiệp trong trợ giúp xã hội sẽ đem lại hiệu quả bền vững của các chính sách an sinh.
Chính bởi những lẽ đó, tôi quyết định tiến hành nghiên cứu đề tài “ Hoạt động tham vấn cho phụ nữ nhiễm HIV/AIDS tại HHD Đại Từ - Thái Nguyên” nhằm đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp của phụ nữ nhiễm HIV/AIDS thông qua các hình thức tham vấn. Từ đó, đƣa ra những khuyến nghị về việc sử dụng tham vấn nhƣ một công cụ quan trọng trong trợ giúp phụ nữ nhiễm HIV/AIDS đƣợc tốt hơn, đồng thời góp phần phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam.Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2. Những nghiên cứu về tham vấn và hoạt động tham vấn cho người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới 2. Một số nghiên cứu về tham vấn trên thế giới Những tác giả nghiên cứu về tham vấn đầu tiên ở nƣớc ngoài có thể kể tới nhƣ: Nhà phân tâm học ngƣời pháp Freud, E.William, Frank Parsons, Carl Rogers, D.
Frank Parsons (1854 – 1908) ngƣời sáng lập ra nghành hƣớng dẫn tƣ vấn nghề ở Mỹ. Ông bắt đầu sự nghiệp với vai trò là nhân viên công tác xã hội ở Boston, đƣợc sự hậu thuẫn của các quan chức lãnh đạo cộng đồng nơi đây, ông đã xuất bản cuốn sách "Cẩm nang hƣớng nghiệp" nhằm giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp, tìm ra cách bắt đầu và xây dựng nghề nghiệp hiệu quả. Những ý tƣởng của F.Parsons trong công tác hƣớng nghiệp đã thực sự trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này. Tham vấn chính thức đƣợc ra đời vào năm 1930 do công của E.
Ông đƣa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên gọi là "Tiếp cận đặc điểm và nhân tố". Ông đã xây dựng các bƣớc của một hoạt động tham vấn. Cách tiếp cận của E.Wiliamson bƣớc đầu đã vƣợt qua những ý tƣởng của F. Mặc dù có nguồn gốc từ công tác tƣ vấn hƣớng dẫn nghề nhƣng hƣớng tiếp cận này đã thay đổi và đƣợc xem nhƣ là một hƣớng tiếp cận hữu cơ với tham vấn và tâm lý trị liệu.
3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau này một loạt các nghiên cứu lý thuyết và cách tiếp cận trong tham vấn thay đổi hành vi con ngƣời trong tham vấn nhƣ S. Freud (1856 -1939) với học thuyết phân tâm học, học thuyết đã cung cấp một hệ thống lý thuyết nền tảng hỗ trợ việc xây dựng các công cụ chẩn đoán. Một số trắc nghiệm tâm lý nhƣ trắc nghiệm tổng giác và trắc nghiệm giọt mực Rorschach đƣợc xây dựng theo lý thuyết của Phân tâm học. Nhiều trắc nghiệm khác đƣợc sử dụng bởi các tham vấn viên và những nhà trị liệu cũng là sản phẩm của học thuyết này.
Carl Rogers (1902 -1987) với học thuyết thân chủ trọng tâm trong tham vấn. Ông sử dụng phƣơng pháp tiếp cận gián tiếp khi làm việc với cá nhân đặt trọng tâm nơi thân chủ, tin tƣởng vào tiềm năng con ngƣời và cung cấp mọi điều kiện để giúp thân chủ đối diện với chính mình giải tỏa các bế tắc của bản thân. Phƣơng pháp của ông đƣợc coi là một quá trình ngắn hơn, nhân văn hơn, trung thực hơn và hiệu quả hơn với hầu hết các khách hàng. Các thuyết này là cơ sở để nhận biết, giải thích nguồn gốc của hành vi và các biểu hiện rối loạn tâm lý con ngƣời cũng nhƣ những cách tiếp cận khác nhau trong tham vấn.Blocher (1966) khi nghiên cứu về tham vấn cho rằng tham vấn là giúp ngƣời kia nhận thức đƣợc bản thân các hành vi có ảnh hƣởng tới môi trƣờng xung quanh, đồng thời trợ giúp họ xây dựng các hành vi có ý nghĩa, thiết lập mục tiêu và phát triển giá trị cho hành vi đƣợc mong đợi.
Trong khái niệm này tác giả quan tâm tới tập nhiễm hành vi và nhận thức hành vi mới. Giai đoạn từ cuối thế kỷ XX cho đến nay, nhiều ngành nghiên cứu đã quan tâm tới yếu tố đa văn hóa trong nghiên cứu lý luận cũng nhƣ thực tiễn của tham vấn. Sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu nhà tham vấn không nắm đƣợc nền tảng văn hóa của khách hàng. Whitfiel, McGrath và Coleman (1952) chỉ ra các yếu tố xác định một mô hình văn hóa; Năm 1995 Hiệp hội tham vấn Mỹ ACA (American Couseling Association) đã sửa đổi những tiêu chuẩn đạo đức và những tiêu chuẩn hành nghề của tham vấn nhằm làm tăng hiệu quả mối quan hệ trợ giúp giữa ngƣời tham vấn và thân chủ, mối quan hệ dựa trên sự thấu cảm, chấp nhận, quan tâm của ngƣời tham vấn đối với từng thân chủ có những đặc trƣng về lứa tuổi, giới tính, kinh nghiệm, trình độ văn hoá khác nhau.
4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nhƣ vậy, các nghiên cứu đã cung cấp cơ sở lý luận cho phát triển tham vấn thật sự trở nên chuyên nghiệp, các hƣớng tiếp cận trị liệu tâm lý với cá nhân, nhóm đã thay đổi, hoàn chỉnh cho phù hợp với ngành tham vấn. Các tác giả cũng đã quan tâm tới tham vấn đặc biệt là tham vấn cho nhóm yếu thế nhằm giúp họ trang bị kiến thức, kĩ năng đối phó với khó khăn và vƣơn lên trong cuộc sống. Những nghiên cứu về tham vấn HIV, hoạt động tham vấn cho người nhiễm HIV và phụ nữ nhiễm HIV/AIDS trên thế giới. Có thể nói có rất nhiều nghiên cứu về HIV bởi đây là một trong những bệnh đƣợc coi là nguy hiểm chƣa có thuốc đặc trị và ảnh hƣởng khá lớn tới cuộc sống con ngƣời cũng nhƣ kinh tế - xã hội.