Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ SINH KẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT. Một số khái niệm cơ bản của đề tài. Khái niệm về sinh kế. Khái niệm khuyết tật.
Khái niệm người khuyết tật. Khái niệm về dạng tật. Khái niệm về công tác xã hội với người khuyết tật. Khái niệm hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật.
Lý luận về hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật. Một số khái niệm. Tầm quan trọng của việc hỗ trợ sinh kế. Các hoạt động công tác xã trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật.
Các chính sách, pháp luật của nhà nước đối với người khuyết tật. Cơ sở pháp lý về khuyết tật và người khuyết tật. Cơ sở pháp lý về công tác xã hội đối với người khuyết tật. Một số yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật.
Điều kiện về con người. Điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện tiếp cận của người khuyết tật. Nguồn lực tài chính cho công tác xã hội và công tác người khuyết tật. Cán bộ quản lý, nhân viên làm công tác xã hội.
Hệ thống các cơ sở sản xuất kinh doanh. 31 Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ SINH KẾ ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN THUẬN THÀNH – TỈNH BẮC NINH. Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu.
Đặc điểm khách thể nghiên cứu. Đánh giá hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại huyện Thuận Thành. Hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về quyền cho người khuyết tật và cộng đồng. Hoạt động tư vấn, tham vấn nâng cao nhận thức hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật.
Hoạt động kết nối nguồn lực trong hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại huyện Thuận Thành. Hoạt động hỗ trợ giáo dục, đào tạo. Hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người khuyết tật. Hỗ trợ về chăm sóc sức khoẻ, khám chữa bệnh và phục hồi chức năng 52 2.
Hỗ trợ về nhà ở cho người khuyết tật. Các hoạt động hỗ trợ khác cho người khuyết tật. Đánh giá các nhân tố tác động ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại huyện Thuận Thành. Điều kiện về con người – đặc điểm người khuyết tật.
Điều kiện cơ sở vật chất, môi trường làm việc. Nguồn lực tài chính cho công tác xã hội trong hoạt động hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật. Đội ngũ cán bộ làm công tác người khuyết tật. 61 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG HỖ TRỢ SINH KẾ CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI HUYỆN THUẬN THÀNH – TỈNH BẮC NINH.
Nhóm giải pháp về yếu tố nhóm con người. Nhóm giải pháp về yếu tố điều kiện cơ sở vật chất, điều kiện tiếp cận của NKT. Nhóm giải pháp về yếu tố nguồn lực tài chính cho công tác xã hội và công tác NKT. Nhóm giải pháp về gia đình, cán bộ quản lý, nhân viên làm công tác xã hội.
Nhóm giải pháp về yếu tố hệ thống chính sách. Nhóm giải pháp đổi mới quan điểm tiếp cận về CTXH, và nâng cao nhận thức của cộng đồng về NKT. 77 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 79 IV DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT Kí hiệu viết tắt Nghĩa CTXH Công tác xã hội NKT Người khuyết tật V DANH MỤC BẢNG Bảng 2.1: Độ tuổi của khách thể nghiên cứu .2: Dạng khuyết tật của khách thể nghiên cứu.
Nhu cầu hỗ trợ của khách thể. Đánh giá sự hỗ trợ nguồn lực đối với người khuyết tật. Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố tới hỗ trợ sinh kế với NKT. 56 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Giới tính của khách thể nghiên cứu .2 Tình trạng sức khỏe của khách thể.
Mức sống của khách thể. Đánh giá nguồn lực được hỗ trợ. Trình độ học vấn của người khuyết tật. những nguồn lực NKT được hỗ trợ.
Nhu cầu, mức độ chăm sóc sức khỏe của khách thể. Tầm quan trọng của cơ sở vật chất, môi trường làm việc đối với NKT. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu. Không ở bất kỳ quốc gia nào, cộng đồng dân cư nào trên thế giới không có người khuyết tật ( NKT).
Nói như vậy không có nghĩa NKT là một phần không thể thiếu hay là một tế bào xấu trong xã hội. Mà phải khẳng định rằng, NKT dù ở bất cứ dạng nào, do bất kỳ nguyên nhân gì, ở bất cứ nơi đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng đều là một trong những con người tạo nên xã hội. Tại Việt Nam hiện này, chúng ta có thể dễ dàng bắt gặp hình ảnh một NKT ở bất cứ nơi đâu. Do nhiều nguyên nhân khác nhau, đặc biệt do hậu quả chiến tranh, thiên tai, bẩm sinh.
nên số người khuyết tật chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng dân số cả nước. Theo con số báo cáo của Bộ Lao Động-Thương Binh và Xã Hội, tính đến tháng 6-2015, Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm hơn 7,8% dân số trong đó người khuyết tật đặc biệt nặng và nặng chiếm khoảng 28,9%, khoảng 4.06 triệu người chiếm 58% người khuyết tật là nữ, 2.94 triệu người là nam giới chiếm tỷ lệ 42%, 28,3% người khuyết tật là trẻ em, 10,2% người khuyết tật là người cao tuổi và khoảng 10% là người khuyết tật thuộc hộ nghèo. Họ là những người thiệt thòi gặp rất nhiều khó khăn về cả đời sống vật chất, lẫn tinh thần. Đây là một bộ phận dân cư cần đến sự trợ giúp của nhà nước và xã hội.
Thống kê trên cả nước có khoảng 70-80% NKT sống ở vùng nông thôn với những điều kiện kinh tế khó khăn, cơ sở hạ tầng thấp kém, gặp nhiều khó khăn trong việc hòa nhập với cộng đồng. Trong khi đó thì phần lớn NKT không thể sống độc lập, có khoảng 70% phải sống dựa vào gia đình, người thân và từ trợ cấp xã hội. Chính vì vậy việc hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật là một trong những giải pháp quan trọng, giúp cho người khuyết tật có được việc làm, thu nhập, tự bảo đảm cuộc sống, hòa nhập với xã hội. Trong đó, công tác xã hội có vai trò quan trọng trong nâng cao nhận thức, huy động nguồn lực, tạo việc làm, ổn định sinh kế [4].
2 Theo số liệu thống kê tình hình thực hiện chính sách năm 2018 của huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh “Báo cáo của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Thuận Thành năm 2018” đã thực hiện trợ cấp xã hội hàng tháng cho 2,971 người khuyết tật trong đó 943 người khuyết tật đặc biệt nặng, chiếm khoảng 32%, người khuyết tật nặng 2,028 chiếm khoảng 68% tổng số người khuyết tật trên địa bàn. Người khuyết tật trong độ tuổi từ 16 đến 50 tuổi là 1,604 người chiếm khoảng 54% tổng số người khuyết tật trong toàn huyện. Chia theo giới tính người khuyết tật có đến 1,857 người là nữ giới chiếm khoảng 63%, còn lại nam giới là 1,14 người chiếm 37% [16]. Phần lớn người khuyết tật ở độ tuổi lao động, có trình độ văn hóa thấp, không có chuyên môn đào tạo, thiếu kiến thức, kinh nghiệm làm ăn, cộng thêm vào đó sức khỏe yếu đã dẫn đến đời sống rất khó khăn.
Người khuyết tật còn khó tiếp cận các hoạt động văn hóa, giải trí, thể dục thể thao ở cở sở cùng với mức trợ cấp xã hội cho người khuyết tật còn thấp. cơ sở vật chất tại các cơ sở trợ giúp người khuyết tật còn thiếu thốn. Cũng như nhận thức, sự quan tâm của các cấp ủy, chính quyền, địa phương trong việc thực hiện luật pháp, chính sách đối với người khuyết tật còn hạn chế và còn nhiều rào cản xã hội do nhận thức của cộng đồng, gia đình và bản thân người khuyết tật chưa đúng và chưa đầy đủ. Để bảo đảm ổn định cuộc sống và hòa nhập thì ngoài trợ cấp xã hội hàng tháng, huyện Thuận Thành cũng đã thực hiện các chương trình, dự án hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật như dạy nghề, tạo việc làm, hướng dẫn cách làm ăn, phục hồi chức năng lao động, nhà ở.
Trong đó đã sử dụng chuyên môn, nghiệp vụ công tác xã hội. Tuy nhiên, kết quả này chỉ dừng lại ở bước đầu. Đặc biệt mới tiếp cận trên quan điểm hỗ trợ phát triển kinh tế, giảm nghèo chưa thật phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của người khuyết tật. Do những đặc điểm của người khuyết tật, cùng với các giải pháp hỗ trợ phát triển kinh tế.
Vì thế cần có các giải pháp, biện pháp, phương pháp công tác xã hội thực hiện song song thì mới phát huy hiệu quả, tính bền vững trong sinh kế cho NKT. 3 Từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu “Hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật tại huyện Thuận Thành – tỉnh Bắc Ninh” là cần thiết. Từ đó tác giả đem đến cái nhìn mới về việc hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật với vai trò của CTXH. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trước hết, cần khẳng định rằng, NKT là một trong những đối tượng đã và đang nhận được sự quan tâm của các cấp, ban, ngành, đoàn thể trong xã hội.
Chúng ta có thể tìm được rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo, hội thảo, tài liệu và động thực tiễn ở nhiều địa phương để chứng minh cho điều này. Việc nghiên cứu về người khuyết tật nói chung, dạy nghề hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật nói riêng. Đã được đề cập trong nghiên cứu khoa học xã hội, chủ đề về người khuyết tật cũng được báo chí đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, đánh giá dưới góc độ khách quan sẽ nhận thấy những mặt tích cực và những điểm cần hoàn thiện hơn của các hoạt động đã được triển khai và những nghiên cứu về NKT.
Trên thế giới Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc về người khuyết tật năm 2002 đã chỉ ra rằng NKT chiếm trên 10% dân số thế giới, cuộc sống của NKT đa phần gặp khó khăn về sinh hoạt, kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.