Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu - Chương 2: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội nhóm đối trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em tại thành phố Hà Nội - Chương 3: Thực trạng hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi tại các cơ sở chăm sóc trẻ em tại thành phố Hà Nội - Chương 4: Thực nghiệm tiến trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi và đề xuất một số giải pháp. 10 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Các công trình nghiên cứu nƣớc ngoài 1. Các công trình nghiên cứu lý luận về trẻ em mồ côi TEMC ngoài những đặc điểm giống như trẻ em bình thường, các em cũng có những đặc điểm riêng biệt.
Có nhiều nghiên cứu liên quan tới vấn đề trên như tác giả Ninan, E., 2010 với bài viết Assessing the costs of providing care to Orphans and Vulnerable Children (OVC) by Home Based Care (HBC) Programs in South Africa và nghiên cứu Guidance for orphans and vulnerable children programming của tổ chức The U. President’s Emergency Plan for AIDS Relief năm 2012 đều nhấn mạnh tới những đặc điểm nhận diện TEMC như: tự ti, sống khép mình, dễ bị tổn thương, sống lang thang không nơi nương tựa. Cũng trong hai nghiên cứu trên, các tác giả đã nhấn mạnh tới việc cung cấp các dịch vụ xã hội, dịch vụ y tế, hỗ trợ lương thực, dinh dưỡng cho TEMC lang thang cũng như những trẻ em sống trong các trung tâm nuôi dưỡng TEMC, trẻ em bị cha mẹ bạo hành và có nguy cơ trở thành TEMC. Các nghiên cứu cũng đã chỉ ra việc cần thành lập các nhóm phụ huynh tham gia hỗ trợ, đánh giá kịp thời những gia đình có trẻ dễ bị tổn thương để kịp thời hỗ trợ và ngăn chặn tình trạng trẻ trở thành TEMC [173], [181].
Trong nghiên cứu về Guidance for Orphans and Vulnerable Children Programming của The U. President’s Emergency Plan for AIDS Relief (PEPFAR), 2012, đề cập tới nhu cầu của TEMC như: nhu cầu được tới trường với môi trường học đường an toàn và hoàn thành giáo dục tiểu học; nhu cầu được sống chung với bố mẹ; nhu cầu được tăng cường tiếp cận các dịch vụ về trẻ em; nhu cầu thực hiện đào tạo hướng nghiệp; nhu cầu được hỗ trợ tâm lý – xã hội; nhu cầu được giữ bí mật đối với TEMC có HIV/AIDS; nhu cầu được trải nghiệm ngoài môi trường xã hội [181, tr. Như vậy, các nghiên cứu đều chỉ ra những điểm chung về TEMC là những trẻ dễ bị tổn thương, hay nổi nóng, tị ti, sống khép mình, tính khí thất thường và rất dễ bị kích động. các em luôn khao khát được sống cùng gia đình, được tới trường [173], [181].
Các công trình nghiên cứu về thực trạng trẻ em mồ côi Trong nghiên cứu của tác giả Cox, A (2017) đã đi sâu phân tích những nguyên nhân dẫn tới tình trạng gia tăng số lượng TEMC. Các nguyên nhân chủ yếu do đại dịch HIV/AIDS, nghèo đói, di dân, ly hôn. cũng trong nghiên cứu đó, tác giả đã chỉ rõ trong giai đoạn 2003-2008 các tổ chức phi chính phủ đã hỗ trợ khoảng 2 tỷ USD cho trẻ em có HCĐB trong đó có TEMC nhằm cải thiện cuộc sống, học tập và đáp ứng nhu cầu cơ bản cho trẻ em tại một số nước ở Châu Phi [165], [181]. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã đề cập mục tiêu giảm thiểu tỷ lệ TEMC: Thứ nhất, xây dựng các dịch vụ và hệ thống tiếp cận trực tiếp tới người dân và cộng đồng, giúp trẻ có điều kiện đi học; Thứ hai, tăng cường phát triển kinh tế hộ gia đình thông qua các hoạt động hỗ trợ từ nhiều nguồn khác nhau, nhằm ngăn ngừa tình trạng trẻ em bị bỏ rơi; Thứ ba, tăng cường tiếp cận chăm sóc sức khoẻ và dinh dưỡng tới từng gia đình cũng như trong nhà trường; Thứ tư, khi lập kế hoạch can thiệp cho TEMC cần nhắm tới giải quyết các nhu cầu chăm sóc ưu tiên thông qua gia đình thay thế.
Cần tập trung vào tập huấn, hỗ trợ cho cha mẹ, người chăm sóc trẻ, giúp họ hiểu và biết cách đáp ứng những nhu cầu cơ bản cho con mình. Thứ năm, cần tăng cường thực thi Luật bảo vệ trẻ em với những chiến lược phù hợp để phòng ngừa và ứng phó với lạm dụng, bóc lột, bạo lực gia đình, thông qua: 1) Thực hiện chính sách bảo vệ trẻ em; 2) Hỗ trợ cộng đồng phòng ngừa và ứng phó với những vấn đề trẻ em có thề gặp phải; 3) Tăng cường mối liên kết giữa các hệ thống bảo vệ trẻ em chính thức và phi chính thức; 4) Nâng cao năng lực của chính phủ để thực hiện và cải thiện các phản ứng bảo vệ trẻ em [181, tr. The African Child Policy Forum (ACPF), 2013, chỉ ra một thực tế: Trên toàn cầu, tính tới năm 2013 ước tính có khoảng 153 triệu trẻ em bị mất mẹ hoặc bố; 17,8 triệu người trong số họ đã mất cả bố và mẹ. Nguyên nhân chính được xác định là do nghèo đói, thiếu tiếp cận với các dịch vụ cơ bản, bị lạm dụng, bị bỏ bê, bệnh tật, khuyết tật và các trường hợp khẩn cấp.
Cũng trong nghiên cứu này đã chỉ ra thực tế số lượng TEMC trên toàn cầu đang có xu hướng gia tăng và mâu thuẫn với hướng dẫn toàn cầu và các chính sách đã được các Chính phủ đưa ra nhằm hướng tới giảm 12 tỷ lệ TEMC. Điển hình tại Ghana, mặc dù nỗ lực phối hợp nhằm giảm sử dụng các trại TEMC, nhưng số lượng TEMC được ghi nhận sống tại các trại TEMC đã tăng từ 3.388 trẻ trong năm 2006 lên 4. Từ những kết quả nghiên cứu cũng như những thống kê bằng con số cụ thể, chúng ta nhận thấy đa số các nghiên cứu đã đi sâu phân tích nguyên nhân dẫn tới tình trạng TEMC gia tăng và có mâu thuẫn với chiến lược của Chính phủ một số nước trong hoạt động giảm thiểu tình trạng TEMC. Chính những phát hiện này của các nghiên cứu sẽ làm kim chỉ nam cho tác giả có được cái nhìn nhận mới hơn và có hướng phân tích, nghiên cứu tốt hơn.
Các công trình nghiên cứu về hoạt động, phương pháp và tiến trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi Các hoạt động công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi: Trong quá trình trợ giúp các nhóm đối tượng gặp khó khăn nói chung và TEMC nói riêng, có khá nhiều hoạt động nhằm hỗ trợ cho các nhóm đối tượng gặp khó khăn, nhất là TEMC. Các hoạt động như: giáo dục kỹ năng sống, can thiệp, phục hồi… Một số nghiên cứu chỉ ra các hoạt động trong CTXHN đối với TEMC như: chăm sóc sức khỏe, y tế; dinh dưỡng; bảo vệ sự an toàn; hoạt động về nhà ở, nơi cư trú… [165], [176]. Một số nghiên cứu khác tập trung vào các hoạt động như: Các hoạt động can thiệp, phục hồi: Các hoạt động này được thực hiện để hỗ trợ cho các cá nhân và nhóm TEMC được nuôi dưỡng trong các nhà thờ, các trại trẻ mồ côi và các nhà mở. Tại đây, các em được NVCTXH, các Sơ và các mẹ hỗ trợ, can thiệp, và tổ chức các hoạt động chăm sóc, giúp các nhóm TEMC phục hồi các chức năng của bản thân, tháo gỡ được những khó khăn và tiến tới chủ động trong học tập.
Các kết quả đó được đề cập trong nghiên cứu [165], [180]. Mặc dù các nghiên cứu có đề cập tới một số hoạt động dành cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, nhưng mới chỉ mang tính chất bao quát, chưa đi sâu cụ thể vào các nhóm TEMC. Các nghiên cứu cũng chưa cụ thể hóa các hoạt động đó được thực hiện như thế nào? Kết quả ra sao? 13 Các nghiên cứu về phương pháp, tiến trình công tác xã hội nhóm nói chung và tiến trình công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi: Trên thế giới, phương pháp CTXHN đã được ứng dụng từ những năm 30 của thế kỷ XX nhưng tới những năm 1940 và 1950 phương pháp CTXHN thực sự phát triển và mang tính khoa học cũng như đạt được những kết quả đáng kể [73, tr. Trong nghiên cứu Association for the Advancement of Social Work with Groups, Inc., (2010) Standards for Social Work Practice with Groups đã đề cập tới những khía cạnh trong phương pháp CTXHN: cần tuân theo những quy tắc đạo đức của Hiệp hội Công tác xã hội Quốc gia; dựa vào các lý thuyết nhóm từ các khoa học xã hội; dựa vào những kiến thức về cá nhân, môi trường và lịch sử hình thành phương pháp CTXHN.
Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã chỉ rõ khi ứng dụng phương pháp can thiệp CTXHN cần chú ý tới hỗ trợ tâm lý, tập trung tới các loại hình nhóm, tiến trình CTXHN cũng như những đặc tính riêng của từng nhóm [159]. Bên cạnh đó, phải kể tới nghiên cứu của Trevithick, P. Nghiên cứu đã đề cập tới cơ sở lý thuyết, kiến thức và cách can thiệp nhóm. Để trợ giúp cho một nhóm, NVCTXH cần hiểu được: loại hình nhóm; cách thức tiếp cận nhóm; lợi thế/điểm mạnh, hạn chế của nhóm; chú ý tới cấu trúc và ranh giới của nhóm; địa điểm, thời gian, thành viên, quy mô nhóm; phong cách làm việc của nhóm; nguyện vọng, mong muốn của nhóm….
Cũng trong nghiên cứu trên của Trevithick, P., 2013 đã đề cập tới 4 giai đoạn hình thành và phát triển của can thiệp nhóm: 1) Giai đoạn tập hợp, định hướng nhóm; 2) Giai đoạn thăm dò nhóm; 3) Giai đoạn thực hiện và đạt được những kết quả; 4) Giai đoạn kết thúc [183]. Nhìn chung các nghiên cứu đều chỉ ra được mặt tích cực của phương pháp CTXHN cũng như những yêu cầu khi thực hiện phương pháp này, trong đó cần tuân thủ các bước cũng như chú ý tới quy mô nhóm và các cách tiếp cận, can thiệp nhóm. Các công trình nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới hoạt động công tác xã hội nhóm: CTXHN là một phương pháp có tiến trình, quy tắc cũng như những hoạt động và mục tiêu cụ thể cho từng nhóm đối tượng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các hoạt động can thiệp cho các nhóm TEMC có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới 14 các hoạt động đó, có thể là những yếu tố thuộc về người lãnh đạo, NVCTXH, từ phía TEMC hay các yếu tố về chính sách hoặc cơ sở vật chất.