Chương 1: Những vấn đề cơ bản về xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hoá - Chương 2: Thực trạng công tác xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nước trong quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam - Chương 3: Một số đề xuất nhằm hoàn thiện phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước trong quá trình cổ phần hóa ở Việt Nam. 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÁC ĐỊNH GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP NHÀ NƢỚC TRONG QUÁ TRÌNH CỔ PHẦN HOÁ 1.1- Khái niệm doanh nghiệp Nhà nước và sự cần thiết phải xác định giá trị doanh nghiệp Nhà nước 1.1- Khái niệm, đặc điểm và vai trò của doanh nghiệp Nhà nước *Khái niệm về DNNN: Lịch sử phát triển của các nền kinh tế thế giới cho thấy trong nền kinh tế thị trƣờng, DNNN là một trong những công cụ quan trọng nhất để Nhà nƣớc can thiệp, điều chỉnh thị trƣờng và đẩy nhanh phát triển kinh tế. Vậy DNNN là gì? Ở nƣớc ta, theo Luật Doanh nghiệp nhà nƣớc năm 2003 thì DNNN đƣợc quan niệm : “ Doanh nghiệp nhà nƣớc là tổ chức kinh tế do Nhà nƣớc sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn góp chi phối, đƣợc tổ chức dƣới hình thức công ty nhà nƣớc, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn”. Ở nƣớc Anh, ngay từ năm 1956 khi thành lập Uỷ ban đặc biệt về quốc hữu hóa công nghiệp đã quy định DNNN phải có đủ 3 điều kiện sau: Một là, hội đồng quản trị doanh nghiệp do Chính phủ bổ nhiệm; Hai là, Uỷ ban quốc hữu hóa công nghiệp kiểm tra tài khoản kinh doanh của doanh nghiệp; Ba là, thu nhập của doanh nghiệp phần lớn không dựa vào sự cung cấp của quốc hội hoặc cơ quan tài chính nhà nƣớc.
Ở nƣớc Pháp, DNNN đƣợc xác định là những doanh nghiệp thỏa mãn đủ 3 điều kiện: Một là, tính công hữu của quyền sở hữu doanh nghiệp, nhờ đó chính phủ xác lập đƣợc địa vị lãnh đạo của nhà nƣớc đối với doanh nghiệp; Hai là, có địa vị pháp nhân độc lập, nghĩa là địa vị của nó trong quá trình kinh tế giống nhƣ các doanh nghiệp pháp nhân khác; Ba là, thực hiện các hoạt động công thƣơng độc lập, quy định nó là tổ chức kinh tế có hạch toán lỗ lãi chứ không phải là đơn vị hành chính sự nghiệp của chính phủ. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các tổ chức quốc tế nhƣ Liên hợp quốc, Ngân hàng thế giới, Quỹ tiền tệ quốc tế đã đƣa ra 3 đặc điểm chính của DNNN là: Một là, chính phủ là cổ đông chính trong doanh nghiệp, hoặc nếu không thì chính phủ có thể thực hiện việc kiểm soát những chính sách chung mà doanh nghiệp theo đuổi và bổ nhiệm hoặc cách chức ban quản lý doanh nghiệp; Hai là, doanh nghiệp có nhiệm vụ sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ bán cho công chúng, hoặc cho các doanh nghiệp tƣ nhân, DNNN khác. Ba là, doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về thu chi trong hoạt động về sản xuất kinh doanh. * Đặc điểm của DNNN: Từ những nội dung trên, chúng ta có thể thấy DNNN có những điểm chung là: Nhà nước sở hữu phần lớn vốn của doanh nghiệp, nhờ đó có thể gây ảnh hưởng có tính chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp đối với các doanh nghiệp; Các doanh nghiệp đều tổ chức theo chế độ công ty là một pháp nhân; Nguồn thu chủ yếu đều từ hoạt động kinh doanh và thường phải thực hiện song song cả mục tiêu sinh lợi lẫn mục tiêu xã hội.
Sự phát triển của DNNN ở các nƣớc trên thế giới đã góp phần không nhỏ trong việc thực hiện các mục tiêu của chính phủ đặt ra nhƣ tạo của cải cho xã hội, đóng góp tài chính cho nhà nƣớc, góp phần tạo ra công ăn việc làm, đem lại thu nhập cho nhiều ngƣời lao động và tạo thế cho nhà nƣớc trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế-xã hội của đất nƣớc. DNNN thƣờng có một khối lƣợng vốn rất lớn và ngƣời sở hữu số vốn đó chính là nhà nƣớc. Sản phẩm của các doanh nghiệp nhà nƣớc sản xuất thƣờng là những sản phẩm có tính đặc thù, đòi hỏi vốn lớn, hoặc những sản phẩm mà nhà nƣớc muốn giữ độc quyền trong việc sản xuất. Tuy nhiên, các DNNN ở các nƣớc trên thế giới đều có một căn bệnh chung, đó là hiệu quả kinh tế thấp hơn nhiều so với các công ty tƣ nhân.
Sự thua lỗ của DNNN đã dẫn đến sự thâm hụt lớn của ngân sách nhà nƣớc, làm rối loạn khả năng điều hành kinh tế vĩ mô. Có thể nói những tiêu cực, hạn chế trong DNNN đều nảy sinh từ tính chất phi thƣơng mại của chúng do sở hữu thuộc về nhà nƣớc. Ngƣời quản lý DNNN không có quyền linh hoạt đối phó với những điều kiện thay đổi của thị trƣờng bằng khu vực kinh tế tƣ nhân, do đó làm tăng thêm chi phí đầu vào của 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Các tổ chức lao động trong các DNNN mạnh hơn trong khu vực tƣ nhân nên các doanh nghiệp ít có khả năng thay đổi đầu vào về nguồn lao động của mình cho phù hợp với điều kiện khách quan bên ngoài doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, việc quyết định các mặt hàng sản xuất nhiều khi thuộc quyền của chính phủ, doanh nghiệp không thể đa dạng hóa một cách dễ dàng đầu ra của mình cho phù hợp với nhu cầu của thị trƣờng. Và trong khi các công ty tƣ nhân lấy lợi nhuận tối đa làm mục đích bao trùm thì các DNNN nhiều khi phải đầu tƣ phù hợp với kế hoạch quốc gia hoặc phải hy sinh lợi nhuận để thực hiện các mục tiêu xã hội. Một hệ quả khác của quyền sở hữu nhà nƣớc là chủ thể sở hữu không có mối liên hệ lợi ích bao nhiêu đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Không những thế, các DNNN vẫn đƣợc hƣởng những ƣu đãi, có đƣợc những thế mạnh từ phía nhà nƣớc hỗ trợ.
Do đó, DNNN dễ dựa dẫm vào nhà nƣớc, không nỗ lực tự vƣợt qua khó khăn. Điều này cũng dẫn đến sự kém hiệu quả trong hoạt động của DNNN. * Vai trò của DNNN: Sự ra đời và tồn tại của các DNNN ở mỗi nƣớc trên thế giới đều do những nguyên nhân kinh tế, xã hội nhất định chi phối. Do đó, vai trò của bộ phận này đối với các nền kinh tế các nƣớc cũng khác nhau.
Tuy mang những đặc trƣng riêng nhƣng DNNN luôn có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của mỗi nƣớc, cụ thể là: - Thứ nhất, DNNN là một trong những thực lực quan trọng của nền kinh tế. Lịch sử kinh tế thế giới đã chứng minh, các nƣớc trên thế giới đều đã duy trì, phát triển loại hình DNNN. Đây là một bộ phận đóng góp quan trọng trong tổng thu nhập quốc dân và thu ngân sách nhà nƣớc ở mỗi quốc gia. Ở mỗi quốc gia, trong mỗi thời kỳ khác nhau, vai trò này có những sự chuyển đổi không giống nhau.
Thứ hai, DNNN là công cụ hữu hiệu để nhà nƣớc thực hiện chức năng điều tiết nền kinh tế. Trong nền kinh tế thị trƣờng, do sự tác động của bàn tay vô hình đã tạo ra nhiều khuyết tật cho nền kinh tế, lợi ích của các doanh nghiệp luôn khác nhau và không phải luôn hoàn toàn thống nhất với lợi ích của toàn xã hội. Do 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vậy, nếu không đƣợc điều chỉnh sẽ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp sẽ tự vận động và phát triển theo từng xu hƣớng riêng vốn có của mình, điều đó sẽ làm cho nền kinh tế phát triển theo hƣớng mất cân đối, dễ dẫn đến sự khủng hoảng và suy thoái nền kinh tế. Để điều chỉnh, nhà nƣớc sử dụng hệ thống các chính sách, pháp luật tạo hành lang và tạo ra sự kích thích, điều tiết quan trọng nhằm vừa phát huy thế mạnh vốn có, vừa bảo đảm hành lang cần thiết hƣớng vào mục tiêu chung.
Đó là hƣớng quan trọng nhất, song chỉ riêng điều đó là chƣa đủ. Nhà nƣớc cần có một thực lực kinh tế, một sức mạnh nằm ngay trong đời sống kinh tế xã hội, thông qua điều hành trực tiếp các DNNN mà tác động gián tiếp vào các doanh nghiệp thuộc các khu vực kinh tế khác phát triển theo quỹ đạo của mình từ đó góp phần làm cho nền kinh tế tăng trƣởng và phát triển ổn định. Thứ ba, DNNN là công cụ để nhà nƣớc thực hiện các chức năng quản lý xã hội của mình. Trong nền kinh tế thị trƣờng, các doanh nghiệp luôn hƣớng tới mục tiêu là tối đa hóa lợi nhuận trong kinh doanh.
Do vậy, các doanh nghiệp thƣờng đầu tƣ vào những ngành, những lĩnh vực có thể đạt đƣợc mục tiêu của họ. Còn các ngành, các lĩnh vực khó khăn mang lại lợi nhuận ít hoặc không có lợi nhuận thì họ không đầu tƣ. Song chính các ngành, lĩnh vực này đƣợc đầu tƣ thì lại có ý nghĩa hoặc hiệu quả rất lớn về mặt xã hội và không thể thiếu đƣợc. Để thực hiện chức năng xã hội của mình, nhà nƣớc buộc phải đầu tƣ vào các lĩnh vực trên dƣới hình thức là các DNNN công ích, sản xuất và cung ứng các dịch vụ công cộng hoặc phục vụ quốc phòng, an ninh.
Thứ tư, thông qua các DNNN mà nhà nƣớc tác động trực tiếp đến sự phân bổ các nguồn lực. Do kinh tế thị trƣờng chạy theo lợi nhuận và tự do cạnh tranh, mặt khác do các nguồn lực kinh tế của đất nƣớc đƣợc phân bổ không đồng đều nên không phát huy đƣợc tổng thể các nguồn lực kinh tế. Nhờ các DNNN, nhà nƣớc đã điều chỉnh và tác động trực tiếp đến việc phân bổ này trong xã hội, đảm bảo phát huy tối đa các nguồn lực của đất nƣớc. Ở Việt Nam, ngoài những vai trò then chốt trên, DNNN còn giữ một vai trò đặc biệt quan trọng.
DNNN là nhân tố mang đầy đủ bản chất của nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nó giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com làm nền móng, làm nòng cốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.2- Sự cần thiết xác định giá trị doanh nghiệp 1. Giá trị doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường 1. Các khái niệm cơ bản * Doanh nghiệp và giá trị của nó Doanh nghiệp là một thực thể kinh tế đồng thời cũng là một loại hàng hoá cho dù nó có những nét đặc thù: nó sản xuất ra của cải và cung cấp dịch vụ.