Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạch định công suất của doanh nghiệp. - Chương 2: Thực trạng về hoạch định công suất tại dây chuyền sản xuất bộ chuyển đổi âm thanh (ADA) ở công ty TNHH SONION Việt Nam. - Chương 3: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao tính hiệu quả công tác hoạch định công suất tại dây chuyền sản xuất bộ chuyển đổi âm thanh (ADA). c 3 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CÔNG SUẤT CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm, phân loại và các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạch định công suất 1.1 Khái niệm và phân loại công suất Công suất hay còn gọi là năng lực sản xuất, là khả năng sản xuất của máy móc, thiết bị, lao động và các bộ phận của doanh nghiệp trong một đơn vị thời gian nhất định với một điều kiện nhất định.
Công suất có thể tính cho một phân xưởng, dây chuyền, công đoạn hay toàn bộ hệ thống sản xuất, trường hợp các bộ phận sản xuất được sắp xếp theo quy trình công nghệ thì công suất được xác định ở khâu yếu nhất. Công suất phù thuộc vào khả năng sản xuất của máy móc, thiết bị và lao động. Vì vậy, công suất là một đại lượng luôn thay đổi, nếu số lượng trang thiết bị thay đổi, diện tích sản xuất, bố trí phân công công việc hợp lý, cải tiến quản lý thì công suất có thể thay đổi. Đơn vị đo lường công suất rất đa dạng, tùy thuộc vào từng đặc tính của từng doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp chỉ sản xuất một hay một nhóm sản phẩm thì đơn vị công suất được tính đơn giản bằng cách đo lường số lượng đầu ra. Tuy nhiên, đối với doanh nghiệp sản xuất nhiều chuẩn loại sản phẩm có tính chất không giống nhau thì có thể qui đổi về cùng một đơn vị để tính, từ đó tổng hợp lại thành mức công suất chung. Đối với những doanh nghiệp mang tính chất dịch vụ thì có thể đo lường công suất theo số lượng đầu vào, như rạp chiếu phim, bênh viện hay hàng không, công suất có thể đo lường bằng số chổ còn trống trong từng tháng. Công suất được phân làm 3 loại chính, việc nghiên cứu đồng thời các loại công suất sẽ giúp đánh gia trình độ quản trị, cách sử dụng công suất một cách toàn diện và có hiệu quả đối với doanh nghiệp.
Ba loại công suất bao gồm: - Công suất thiết kế: là công suất tối đa mà doanh nghiệp có thể đạt trong những điều kiện thiết kế. Các điều kiện có thể là: máy móc làm việc bình c 4 thường và liên tục, nguyên liệu và nhiên liệu được cung cấp đầy đủ, nhân công lao động được bố trí đầy đủ cho từng vị trí và thời gian làm việc phù hợp. Công suất thiết kế giử vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá mức độ hiệu quả sử dụng năng suất của doanh nghiệp. - Công suất hiệu quả: là tổng đầu ra tối đa mà doanh nghiệp mong muốn có thể đạt được trong từng điều kiện cụ thể về cơ cấu sản phẩm, dịch vụ, tuân thủ theo tiêu chuẩn, quy trình công nghệ, khả năng điều hành sản xuất, kế hoạch duy trì, bảo dưỡng định kỳ máy móc, thiết bị và cân đối các hoạt động.
Điều quan trọng là công suất hiệu quả cho phép doanh nghiệp phân đấu để đạt được mục tiêu chiến lược mong muốn. - Công suất thực tế: là khối lượng sản phẩm mà doanh nghiệp đạt được trong thực tế. Trên thực tế, không phải lúc nào doanh nghiệp cũng có thể đáp ứng được các điều kiện theo đúng chuẩn mực, tiêu chuẩn đề ra nhằm để đạt được công suất hiệu quả, mà thường xuyên có những trục trặc bất thường dẫn đến sản phẩm thực tế đạt được luôn thấp hơn so với dự kiến. Công suất thực tế chính là khái niệm được các doanh nghiệp sử dụng phổ biến nhất trong báo cáo, đánh giá và hạch toán.
Ba loại công suất trên đóng vai trò rất quan trọng trong việc phân tích và đánh giá trình độ quản trị công suất của doanh nghiệp. Chúng dùng để xác định hai chỉ tiêu, mức độ hiệu quả và mức độ sử dụng công suất. Công thức tính các chỉ tiêu: Mức hiệu quả = Công suất thực tế / Công suất hiệu quả *100% Mức độ sử dụng = Công suất thực tế / Công suất thiết kế * 100% Các chỉ tiêu này đều phải được tính đồng thời, bởi mỗi chỉ tiêu phản ánh một khía cạnh khác nhau trong công tác quản trị công suất, nếu mức hiệu quả cao trong khi mức độ sử dụng thấp, điều này cho thấy trình độ quản lý sử dụng công suất chưa tốt. Ngược lại, nếu mức độ sử dụng cao trong khi mức hiệu quả thấp do tốn kém trong việc sửa chửa và vận hành, điều này sẽ cho thấy khả năng quản lý kém hiệu quả đối với các trang thiết bị, máy móc.2 Các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạch định công suất Việc hoạch định công suất trong doanh nghiệp bị chi phối bởi nhiều nhân tố, vì vậy khi hoạch định công suất các doanh nghiệp cần phải phân tích và đánh giá các nhân tố sau: - Nhu cầu sản phẩm dịch vụ và đặc điểm tương ứng: đây là cơ sở cho việc tính toán và lựa chọn công suất.
Những vấn đề cơ bản cần phân tích là khối lượng sản phẩm dịch vụ cần đáp ứng và thời điểm cần cung cấp, nếu nhu cầu sản phẩm dịch vụ ổn định cùng với tính đồng nhất của sản phẩm dịch vụ sẽ tạo thuận lợi cho việc xây dựng và lựa chọn công suất. Ngược lại, sản phẩm dịch vụ có tính đa dạng kèm với nhu cầu thường xuyên thay đổi sẽ gây khó khăn và ảnh hưởng đến sự quyết định, lựa chọn công suất. - Đặc điểm và tính chất của công nghệ sử dụng: việc phát triển của công nghệ cũng có tác động rất lớn đến việc hoạch định công suất của doanh nghiệp. Quyết định lựa chọn công suất cần phải dựa trên sự phân tích thận trong, từng chi tiết và đặc điểm của từng công nghệ.
Các đặc điểm cần phân tích, đánh giá là trình độ, loại hình, tính chất và năng lực của công nghệ. Những đặc điểm này quyết định đến việc lựa chọn công suất của dây chuyền sản xuất và của doanh nghiệp. Vì vậy, việc lựa chọn công suất gắn liền đến việc lựa chọn công nghệ, tuy nhiên cũng cần phải chú ý đến xu hướng phát triển công nghệ trong tương lai và công nghệ quản lý mới cũng ảnh hưởng lớn tới công suất của doanh nghiệp. - Trình độ tay nghề và tổ chức lực lương lao động trong doanh nghiệp: đây là yếu tố quyết định đến việc lựa chọn và khai thác sử dụng công suất.
Trình độ chuyên môn, kỹ năng và tay nghề của người lao động là nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng sản xuất. Ngoài ra, ý thức và tinh thần tổ chức kỷ luật cũng là yếu tố ảnh hưởng đến quản trị công suất, là nguyên nhân gây lãng phí, hiệu quả thấp trong quản lý, sử dụng công suất của doanh nghiệp. - Diện tích mặt bằng, nhà xưởng và bố trí kết cấu cơ sở hạ tầng trong doanh nghiệp: diện tích mặt bằng nhà xưởng là điều kiện quan trọng, nhiều trường hợp nó được xác định là giới hạn của quyết định lựa chọn công suất. Ngoài khả năng diện tích sản xuất, hệ thống kho tàng bến bãi tập kết và giao nhận c 6 nguyên liệu, sản phẩm, công suất còn phụ thuộc vào trình độ thiết kế mặt bằng bố trí trang thiết bị, phương tiện, vật liệu kiến trúc trong khu vực sản xuất.
Đây là những nhân tố làm tăng khả năng sản xuất hay làm giảm khả năng sản xuất, phù thuộc vào phướng án bố trí hợp lý hay ngược lại. - Trình độ liên kết của doanh nghiệp: việc doanh nghiệp trực tiếp sản xuất từ đầu đến cuối, bao gồm tạo nguyên liệu, sản xuất hàng bán thành phẩm và thành phẩm hoàn chỉnh sẽ có công suất khác với công suất nếu như doanh nghiệp chỉ tập trung vào việc sản xuất hàng thành phẩm. Vì vậy, công suất cũng sẽ phù thuộc vào nhân tố doanh nghiệp tự sản xuất hay thuê gia công ngoài. - Hệ số sử dụng máy móc, thiết bị: nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến công suất của doanh nghiệp.
Một hệ thống được thiết kế vận hành trong 80 giờ/tuần sẽ có một năng lực sản xuất về lý thuyết là gấp đôi với thiết kế chỉ hoạt động 40 giờ/tuần. - Các yếu tố bên ngoài: những yếu tố bên ngoài như tiêu chuẩn, qui định về sản phẩm, những qui định của chính phủ về thời gian lao động, nguyên tắc an toàn lao động hay tình hình thị trường, mức độ cạnh tranh cũng có tác động đến việc lựa chọn công suất.3 Trình tự và nôi dung hoạch định công suất Bước 1: Đánh giá công suất hiện có của doanh nghiệp Bước 2: ước tính nhu cầu sản xuất Bước 3: Tiến hành so sánh xác định công suất cần bổ sung Bước 4: Xây dựng các phương án kế hoạch công suất khác nhau Bước 5: Đánh giá chỉ tiêu tài chính, kinh tế - xã hội và công nghệ của từng phương án kế hoạch đưa ra c Bước 6: Lựa chọn phương án 7 Sơ đồ 1.1: Trình tự hoạch định công suất Nội dung từng bước thực hiện hoạch định công suất: - Bước 1: Đánh giá công suất hiện có của doanh nghiệp, mục đích nhằm phân tích đặc điểm của loại hình sản xuất, dịch vụ. Dựa trên cơ sở đó xác định công suất hiện có của doanh nghiệp (được đo bằng đầu ra hay đầu vào). Tuy nhiên, việc thực hiện bước này cũng gặp nhiều khó khăn về đảm bảo tính chính xác, bởi có rất nhiều nguyên nhân tác động làm thay đổi công suất.
Vì vậy, trong quá trình đánh giá công suất cần chỉ rỏ những nguyên nhân dẫn đến sự biết động của công suất. - Bước 2: ước tính nhu cầu công suất, căn cứ vào từng nhu cầu sản phẩm và dịch vụ khác nhau. - Bước 3: Tiến hành so sánh nhu cầu sản phẩm với công suất hiện có để xác định công suất cần bổ sung. Trong quá trình tính toán cần phải xác định rỏ những quyết định công suất dài hạn và ngắn hạn nằm ở bản chất và mức độ rủi ro gặp phải.
- Bước 4: Xây dựng các phương án kế hoạch khác nhau. - Bước 5: Đánh giá chỉ tiêu tài chính, kinh tế - xã hội và công nghệ của từng phương án kế hoạch đưa ra. - Bước 6: Lựa chọn phương án kế hoạch công suất thích hợp đối với tình hình thực tế của doanh nghiệp và đảm bảo thực hiện mục tiêu chiến lược mà doanh nghiệp đưa ra.