CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC KINH DOANH 1. Khái quát chung về hoạch định chiến lược kinh doanh 1.1 Khái niệm hoạch định chiến lược kinh doanh “Chiến lược” là từ thường được sử dụng trong lĩnh vực quân sự thời gian đầu. Chiến lược đề cập đến những kế hoạch dài hạn, kế hoạch lớn. Chiến lược được hoạch định dựa trên cơ sở tin chắc về những việc đối phương có thể làm.
Nói ngắn gọn,hoạch định chiến lược được hiểu là kế hoạch và nghệ thuật chỉ huy quân sự. Nhiều quan điểm khác nhau về khái niêm của “hoạch định chiến lược”. Theo học giả Fred R. David (2008) hoạch định chiến lược chính là “những phương tiện đạt đến mục tiêu dài hạn”.
Còn Alfred Chadler đưa ra khái niệm về hoạch định chiến lược là “sự xác định các mục tiêu cơ bản và lâu dài của doanh nghiệp” đồng thời “vạch ra một quá trình hành động và phân phối nguồn lực thiết yếu nhằm thực hiện mục tiêu đó”. Kenneth Andrews, trong ‘The Concept of Corporate Strategy” (2010) cho rằng, hoạch định chiến lược “là những gì mà một tổ chức phải làm dựa trên những điểm mạnh và điểm yếu của mình trong bối cảnh có cơ hội và cả những mối đe dọa”. Theo tác giả người Mỹ, Bruce Henderson (2009) cho rằng, chiến lược tốt là lợi thế cạnh tranh, để đưa doanh nghiệp đến một vị thế tốt hơn các đối thủ cạnh tranh, từ đó tạo ra những giá trị có ý nghĩa. Theo tác giả Quinn (1990) hiểu việc hoạch định chiến lược chính là “sự tìm kiếm thận trọng một kế hoạch hành động để phát triển và kết hợp lợi thế cạnh tranh của tổ chức.” Trong đó lợi thế cạnh tranh chính là điều quan trọng, là sự khác biệt giữa doanh nghiệp của mình với các đối thủ cạnh tranh.
Vì vậy, không thể có các đối thủ cạnh tranh nếu giống nhau về phương thức kinh doanh. Điều quan trọng là tìm ra được những điểm khác biệt có ý nghĩa giữa các doanh nghiệp. Những điều khác biệt giữa bạn và đối thủ cạnh tranh là cơ sở cho lợi thế của bạn”. 11 Theo Michael Porter, “hoạch định chiến lược cạnh tranh liên quan đến sự khác biệt.
Đó là việc lựa chọn cẩn thận một chuỗi hoạt động khác biệt để tạo ra một tập hợp giá trị độc đáo”. Theo cách tiếp cận truyền thống, hoạch định chiến lược kinh doanh được xem như “tổng thể dài hạn của một tổ chức nhằm đạt tới mục tiêu lâu dài”. Chandler (2011) nhà nghiên cứu lịch sử quản lý bày tỏ quan điểm về hoạch định chiến lược, đó là “việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp và hiện thực hoá chương trình hành động kết hợp với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để hướng tới những mục tiêu ấy”. Chiến lược có tính dài hạn, vì vậy, hoạch định chiến lược cần một quá trình đầu tư, sáng tạo và tỉ mỉ.
Quan trọng trước nhất là tạo ra mục tiêu, xây dựng một mục tiêu rõ ràng, xuyên suốt. Doanh nghiệp xác định rõ các bước tiến hành để hoàn thành mục tiêu. Dựa trên khái niệm này, các doanh nghiệp có cái nhìn dễ dàng, có thể hình dung ra công việc cần làm nhằm mục đích hoạch định kế hoạch dài hạn cho sự phát triển. Mặc dù vậy, với xu hướng toàn cầu hóa, sự phụ thuộc về kinh tế giữa các quốc gia rất lớn, thị trường kinh doanh bị ảnh hưởng bởi các biến động trong nước và quốc tế, với cách tiếp cận kiểu truyền thống không thể đáp ứng được sự thay đổi linh hoạt của môi trường kinh doanh.
Mintzberg (1994) tiếp cận khái niệm hoạch định chiến lược theo một cách mới, hiện đại hơn. Theo ông, chiến lược “là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động” Chiến lược có nhiều hình thức, trong đó có loại chính là: chiến lược được thiết kế từ trước và chiến lược đột xuất. Mintzberg đề xuất mô hình hoạch định chiến lược, trong đó giúp cho các công ty, tổ chức có thể linh hoạt ứng phó với các biến động của môi trường kinh doanh, đồng thời phát huy tính năng động, sáng tạo của nguồn nhân lực. Mô hình yêu cầu người quản lý, lãnh đạo phải có khả năng, trình độ, kỹ năng, nắm bắt được tình hình, dự báo trước những điều kiện hiện thực hóa chiến lược và đánh giá được tính khả thi của các chiến lược.
Có thể thấy, với những cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đều chung quan 12 điểm như sau: hoạch định chiến lược chính là việc phân tích, tìm hiểu về thị trường tại thời điểm hiện tại và tương lai, nhằm mục đích hoạch định các mục tiêu của doanh nghiệp. Chiến lược là bước quan trọng để thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các quyết định với mục đích quan trọng là đạt được mục tiêu. Trong lĩnh vực kinh doanh, để thể hiện tầm quan trọng, ý nghĩa của nó, nhiều doanh nghiệp cũng sử dụng khái niệm “hoạch định chiến lược” như trong lĩnh vực quân sự. Theo đó, hoạch định chiến lược là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực của tổ chức như con người, tài sản, tài chính,… để nâng cao và đảm bảo quyền lợi thiết yếu của tổ chức, doanh nghiệp.
Tóm lại, qua những hình thức tiếp cận trên, hoạch định chiến lược kinh doanh là một nghệ thuật xây dựng mục tiêu dài hạn và các chính sách thực hiện nhằm định hướng và tạo ra lợi thế cạnh tranh. Vai trò của hoạch định chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp Chiến lược kinh doanh (CLKD) có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp, mỗi ngành nghề. “CLKD đúng đắn sẽ tạo ra hướng đi tốt, có thể coi như kim chỉ nam dẫn đường”. Thực tế chứng minh, trong sản xuất, kinh doanh, nhiều doanh nghiệp, cá nhân, do hoạch định được CLKD hợp lý, sáng suốt, mà gặt hái được nhiều thành công, xây dựng được sự nghiệp và vị trí trên thị trường.
Thông qua các bước tìm hiểu, phân tích, đánh giá thị trường, sự tìm hiểu tường tận và khả năng dự báo được sự biến động trong môi trường kinh doanh trong quá trình hoạch định CLKD, các doanh nghiệp có thể có khả năng định hướng cho các hoạt động trong thời gian tới. Do sự tác động của nội lực và ngoại lực, nên tính chất của kinh doanh là biến động đòi hỏi tính linh hoạt. CLKD giúp cho các tổ chức doanh nghiệp chủ động, sáng tạo, thích nghi tốt với các thay đổi. Quan trọng sự thay đổi đó không làm thay đổi hướng đi của doanh nghiệp, điều đó giúp doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu đặt ra.
Từ những phân tích trên, có thể rút ra một số vai trò quan trọng của CLKD như sau: 13 CLKD là công cụ hỗ trợ doanh nghiệp phác thảo được chiến lược để đạt được lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh. Sản phẩm, dịch vụ chủ yếu của quá trình hoạch định CLKD chính là CLKD. CLKD giúp doanh nghiệp thực hiện quản trị hiệu quả và năng suất hơn, tăng thế lực và lợi thế cạnh tranh với mục tiêu chủ động đạt hiệu quả kinh doanh. Trong giai đoạn đầu của một doanh nghiệp, rất nhiều kế hoạch được yêu cầu.
Trong khi một kế hoạch làm rõ các mục tiêu, thì đó là chiến lược giúp thực hiện và đạt được tầm nhìn. CLKD đảm bảo rằng mọi khía cạnh của một doanh nghiệp đều được lên kế hoạch. Mọi người trong đội đều ý thức được mình cần làm gì, đồng vốn được phân bổ hợp lý. CLKD có thể giúp doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh so với những doanh nghiệp khác trong phân khúc.
Nó cũng làm cho chúng trở nên độc đáo trong mắt khách hàng của họ. Ngoài ra, đảm bảo rằng các nhà lãnh đạo có quyền kiểm soát các quy trình. Điều này có nghĩa là đường lối cũng sẽ đi theo kế hoạch. Khi một chiến lược không được xác định rõ ràng, một doanh nghiệp có thể bắt đầu gặp khó khăn, với việc nhân sự thay đổi cốt lõi của doanh nghiệp và các giá trị của nó thường có thể trở nên ít được xác định hơn.
Trong một số trường hợp, điều này có thể khiến các tổ chức trở thành nạn nhân của chính thành công, có thể đạt được kết quả ngắn hạn, nhưng điều này có thể phải trả giá bằng khả năng tồn tại lâu dài. Tạo ra một chiến lược kinh doanh không phải là một nhiệm vụ quá khó khăn, nhưng nó cần có thời gian và sự tập trung. Nhà lãnh đạo nên ưu tiên chiến lược kinh doanh của mình và đảm bảo rằng luôn xác định lộ trình kinh doanh của mình. Tạo một chiến lược kinh doanh không có nghĩa là doanh nghiệp sẽ thành công.
Tuy nhiên, chiến lược cho phép nhà lãnh đạo chia sẻ tầm nhìn và mục tiêu của tổ chức với nhân viên. Và, nếu được thực hiện đúng cách sẽ tạo ra một sợi chỉ chung xuyên suốt hoạt động kinh doanh để phấn đấu đạt được thành công. Và, nếu mọi thứ trở nên khó khăn, đảm bảo nhân viên đã nhận thức được tầm nhìn chiến lược của tổ 14 chức và có thể nhân đôi tầm nhìn, thay vì chữa cháy.3 Các cấp chiến lược kinh doanh trong doanh nghiệp Phân loại theo Fred R. Chiến lược cấp công ty là “chiến lược của cả tập đoàn hay doanh nghiệp; nhằm định hướng hoạt động của doanh nghiệp và cách thức phân bố nguồn lực nhằm đạt mục tiêu chung.
Chiến lược cấp doanh nghiệp là một lời công bố về mục tiêu dài hạn, các định hướng phát triển của tổ chức”. Các quyết định chỉ ra mục tiêu ngắn hạn, mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp, xác định doanh nghiệp sẽ tham gia bao nhiêu lĩnh vực kinh doanh và đó là những lĩnh vực gì. Doanh nghiệp huy động và tìm kiếm các nguồn lực thiết yếu để triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra; Phân bố nguồn lực giữa các đơn vị kinh doanh để đảm bảo việc mục tiêu được thực hiện đồng đều giữa các bộ phận và hướng đến thực hiện mục tiêu chung của doanh nghiệp. Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh, là tập hợp các hoạt động và cam kết để giành được lợi thế cạnh tranh bằng cách khai thác các năng lực cốt lõi của họ vào những thị trường dịch vụ, sản phẩm cụ thể.
Nếu như hoạch định chiến lược doanh nghiệp bao gồm một tập hợp đồng nhất các hoạt động trong doanh nghiệp thì hoạch định chiến lược kinh doanh tập trung triển khai các danh mục đầu tư kinh doanh của đơn vị kinh doanh liên quan.