Luận văn Thạc sĩ Hóa học: Tách chiết, cấu trúc, hoạt tính chống loãng xương từ Vót vàng nhạt

Nghiên cứu khoa học chi tiết về quá trình tách chiết, xác định cấu trúc và đánh giá hoạt tính chống loãng xương của các hợp chất từ cây Vót vàng nhạt. Khám phá

Chuyên ngành

Hóa hữu cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ

2021

98
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cây Vót vàng nhạt và nghiên cứu chống loãng xương

Cây Vót vàng nhạt (Viburnum lutescens Blume) là loài thực vật thuộc họ Kim ngân (Caprifoliaceae). Loài cây này phân bố chủ yếu tại các tỉnh phía Bắc Việt Nam. Nghiên cứu được thực hiện bởi Lê Đức Thiện tại Viện Hóa sinh biển, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam năm 2021. Đề tài thuộc dự án KHCBHH.02/19-21 về tìm kiếm hợp chất chống loãng xương từ thực vật. Chi Viburnum đã được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới. Nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học đã được phân lập từ các loài trong chi này. Các nghiên cứu trước đó cho thấy chiết xuất từ Viburnum có khả năng chống ung thư và kháng viêm. Tuy nhiên, nghiên cứu về hoạt tính chống loãng xương của Vót vàng nhạt còn hạn chế. Đây là hướng nghiên cứu mới và tiềm năng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho việc phát triển dược liệu chống loãng xương.

1.1. Đặc điểm thực vật học và phân bố của cây Vót vàng nhạt

Cây Vót vàng nhạt là cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ. Lá mọc đối, phián lá hình trứng hoặc hình elip. Hoa mọc thành cụm ở đầu cành, màu trắng vàng nhạt. Quả hạch, hình trứng, khi chín màu đỏ đen. Cây phân bố tự nhiên tại các vùng núi phía Bắc Việt Nam. Cây thường mọc trong rừng thứ sinh hoặc ven suối ở độ cao từ 200 đến 1500 mét. Thời gian thu hái tốt nhất là vào mùa hè khi cây đang ra hoa. Bộ phận sử dụng chủ yếu là lá và cành non.

1.2. Tình hình nghiên cứu về chi Viburnum trên thế giới

Chi Viburnum đã được nghiên cứu rộng rãi về hóa học và hoạt tính sinh học. Nhiều hợp chất đã được phân lập như flavonoid, terpenoid, iridoid và lignan. Nghiên cứu từ V. awabuki cho thấy vibsanin P và W có độc tính tế bào ung thư phổi A549 với ED50 lần lượt là 2,25 và 2,18 μg/ml. Các hợp chất luzonial A và B ức chế tế bào HeLa với IC50 là 3,5 và 1,9 μg/ml. Năm 1995, Abdallah và Ibraheim phân lập được Viburnine từ chi Viburnum. Các nghiên cứu cho thấy chi này có tiềm năng lớn về dược học.

II. Phân tích hóa học và cơ chế chống loãng xương của hợp chất

Loãng xương là tình trạng rối loạn chuyển hóa của bộ xương. Bệnh làm giảm sức mạnh xương và tăng nguy cơ gãy xương. Sức mạnh xương phụ thuộc vào khối lượng và chất lượng xương. Quá trình loãng xương liên quan đến mất cân bằng giữa tế bào hủy xương và tạo xương. Các flavonoid glycoside có tiềm năng điều hòa quá trình này. Cây Vót vàng nhạt chứa nhiều hợp chất flavonoid có hoạt tính sinh học. Hợp chất VL1 được xác định là flavonol-glycoside. Hợp chất VL2 là Kaempferol 3-O-rutinoside. Cả hai hợp chất đều có khung aglycone kaempferol. Phần đường liên kết bao gồm glucose và rhamnose. Các hợp chất này tác động lên quá trình biệt hóa tế bào xương. Chúng có khả năng giảm stress oxy hóa trong mô xương. Điều này giúp bảo vệ tế bào tạo xương khỏi hư hại. Nghiên cứu mở ra hướng phát triển dược liệu chống loãng xương mới.

2.1. Thành phần hóa học chính từ cây Vót vàng nhạt

Phân tích phổ 1D-NMR và 2D-NMR xác định cấu trúc hai hợp chất chính. Hợp chất VL1 có khung flavonol với nhóm hydroxyl tại vị trí C-3, C-5, C-7 và C-4′. Phần glycoside liên kết tại vị trí C-3 của aglycone. Hợp chất VL2 là Kaempferol 3-O-rutinoside với đường glucose liên kết rhamnose. Dữ liệu phổ 13C-NMR cho thấy 15 tín hiệu cacbon aromatic đặc trưng. Phổ DEPT xác định các loại cacbon CH, CH2, CH3. Phổ ESI-MS cung cấp phân tử ion chính xác.

2.2. Cơ chế tác dụng chống loãng xương của flavonoid glycoside

Flavonoid glycoside tác động lên quá trình hủy xương qua nhiều cơ chế. Chúng ức chế sự biệt hóa tế bào hủy xương từ nguyên bào tiền thân. Hợp chất can thiệp vào tín hiệu RANKL/RANK/OPG. RANKL kích hoạt quá trình tạo hủy xương. OPG là receptor đối kháng ngăn cản RANKL liên kết RANK. Flavonoid làm tăng biểu đồ OPG và giảm RANKL. Ngoài ra, flavonoid có tính chống oxy hóa mạnh. Chúng loại bỏ gốc tự do bảo vệ tế bào tạo xương. Tác dụng hiệp đồng này giúp duy trì cân bằng chuyển hóa xương.

III. Phương pháp tách chiết và xác định cấu trúc hợp chất

Nghiên cứu sử dụng nhiều phương pháp sắc ký hiện đại để tách chiết hợp chất. Sắc ký cột (CC) được dùng làm bước tách ban đầu. Các hệ dung môi gradient được tối ưu để phân tách các hợp chất. Sắc ký lỏng áp suất cao (HPLC) giúp tinh chế hợp chất đến độ tinh khiết cao. Quy trình tách chiết bắt đầu bằng chiết xuất thô bằng metanol. Chiết xuất thô được phân đoạn bằng dung môi có độ phân cực tăng dần. Các phân đoạn giàu flavonoid được chọn để tách tiếp. Xác định cấu trúc sử dụng phổ cộng hưởng từ hạt nhân NMR. Phổ 1H-NMR cung cấp thông tin về proton và môi trường hóa học. Phổ 13C-NMR và DEPT xác định loại và số lượng cacbon. Phổ tương tác dị hạt nhân HSQC cho biết liên kết C-H trực tiếp. Phổ khối ESI-MS xác định khối lượng phân tử chính xác. Đối chiếu dữ liệu phổ với tài liệu tham khảo để khẳng định cấu trúc.

3.1. Quy trình tách chiết và làm giàu hợp chất flavonoid

Nguyên liệu được phơi khô và nghiền thành bột mịn. Chiết xuất bằng metanol ở nhiệt độ phòng trong 72 giờ. Chiết xuất cô đặc dưới áp suất giảm ở 40°C. Phần dư được phân đoạn bằng chloroform, ethyl acetate và butanol. Phân đoạn ethyl acetate chứa nhiều flavonoid nhất. Phân đoạn này được tách bằng sắc ký cột với silica gel. Hệ dung môi gradient chloroform-metanol được sử dụng. Các phân đoạn có thành phần tương tự được gộp lại kiểm tra bằng TLC. Hợp chất tinh khiết được thu nhận sau nhiều lần tách sắc ký.

3.2. Kỹ thuật phổ NMR và MS trong xác định cấu trúc

Phổ 1H-NMR đo ở tần số 500 MHz trong dung môi CD3OD. Phổ 13C-NMR đo ở 125 MHz cho thông tin cacbon. Phổ DEPT phân biệt cacbon bậc 1, 2, 3 và cacbon bậc 4. Phổ HSQC xác định liên kết C-H trực tiếp qua một liên kết. Đối chiếu dữ liệu phổ với tài liệu tham khảo giúp xác định chính xác cấu trúc. Phổ ESI-MS cho biết khối lượng phân tử ion [M+H]+ hoặc [M-H]-. Kết hợp tất cả dữ liệu phổ để xây dựng cấu trúc hoàn chỉnh của hợp chất.

IV. Kết luận và triển vọng ứng dụng trong điều trị loãng xương

Nghiên cứu đã phân lập và xác định thành công cấu trúc hai hợp chất từ cây Vót vàng nhạt. Hợp chất VL1 là flavonol-glycoside có khung aglycone kaempferol. Hợp chất VL2 là Kaempferol 3-O-rutinoside với đường rutinose. Cả hai hợp chất đều thuộc nhóm flavonoid glycoside. Nghiên cứu đánh giá tiềm năng chống loãng xương của các hợp chất này. Kết quả cho thấy flavonoid glycoside có khả năng ức chế tế bào hủy xương. Chúng cũng bảo vệ tế bào tạo xương khỏi stress oxy hóa. Cơ chế tác dụng liên quan đến điều hòa tín hiệu RANKL/RANK/OPG. Nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho phát triển dược liệu chống loãng xương. Cây Vót vàng nhạt là nguồn nguyên liệu tiềm năng tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu góp phần bảo tồn và phát huy giá trị dược liệu bản địa. Đây là hướng nghiên cứu mở cho y học tái tạo và phục hồi xương.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu bổ sung kiến thức về hóa học thực vật chi Viburnum tại Việt Nam. Kết quả xác định cấu trúc hai hợp chất flavonoid glycoside mới. Phát hiện tiềm năng chống loãng xương mở hướng ứng dụng dược học. Nghiên cứu đóng góp vào cơ sở dữ liệu hóa học thiên nhiên Việt Nam. Kết quả là nền tảng cho nghiên cứu sâu hơn về cơ chế tác dụng. Nghiên cứu giúp định hướng tìm kiếm hợp chất chống loãng xương mới từ thực vật. Đây là luận văn thạc sĩ hóa học hữu cơ chất lượng cao tại Học viện Khoa học và Công nghệ.

4.2. Hướng phát triển và ứng dụng trong tương lai

Cần tiến hành nghiên cứu in vivo trên mô hình động vật loãng xương. Xác định chi tiết cơ chế tác dụng ở cấp độ phân tử và tế bào. Đánh giá dược động học và độc tính cấp của hợp chất. Phát triển quy trình chiết xuất công nghiệp từ cây Vót vàng nhạt. Nghiên cứu bào chế dạng viên nang hoặc viên nén tiện dụng. Thử nghiệm lâm sàng trên bệnh nhân loãng xương giai đoạn đầu. Kết hợp với các hợp chất khác để tăng hiệu quả điều trị. Xây dựng vùng trồng nguyên liệu đạt tiêu chuẩn GMP.

19/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ CHI VIBURNUM 1. Giới thiệu chung chi Viburnum Viburnum hay còn gọi là Kim ngân hoa là một chi gồm khoảng 200 loài, cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ trong họ Adoxaceae. Sự phân loại hiện nay dựa trên phát sinh loài phân tử.

Trước đây, nó thuộc họ Caprifoliaceae, các loài thuộc họ bản địa phân bố ở khắp bán cầu Bắc, với một số loài phân bố mở rộng đến các vùng núi nhiệt đới của Nam Mỹ, Ukraine, Nga và Đông Nam Á. Ở Châu Phi, chi này được giới hạn trong dãy núi Atlas. Ở Ukraine, Viburnum (kalyna) được xem như một biểu tượng quốc gia, một biểu tượng cho lễ kỷ niệm Koliada và quan niệm về tình yêu thể hiện sự dịu dàng của các cô gái trẻ. Đây là yếu tố chính của vòng hoa truyền thống của Ukraine.

Tên chung bắt nguồn từ tiếng Latinh. Lá mọc đối, đơn, nguyên, có răng cưa hoặc cong. Ở vùng khí hậu mát thường rụng lá, ở các vùng khí hậu ấm áp lá thường có màu xanh. Một số loài có lông dày ở chồi và lá, lông hình sao.

Hoa được tạo thành hình nón 5-15cm, mỗi bông màu trắng kem hoặc hồng, có năm cánh, ở một số loài có mùi rất thơm. Quả có hình dạng tròn, bầu dục, có màu từ đỏ đến tím, xanh lam hoặc đen, chứa một hạt đơn. Một số loại có thể ăn được, nhưng nhiều loại khác hơi độc. Viburnum là loại dược liệu có khả năng ức chế chất Histamin và Prostaglandin E2 (đây là 2 hoạt chất thường xuất hiệu nếu cơ thể đang gặp tình trạng viêm nhiễm).

Nhờ vậy, chúng được ứng dụng để điều trị các chứng bệnh như viêm họng, viêm da do mụn nhọt, lở ngứa, trị viêm ruột thừa cấp… Theo nhiều nghiên cứu chuyên ngành, dược liệu này có khả năng kháng khuẩn rộng và mạnh hơn rất nhiều các loại thảo dược khác. Đặc biệt, Kim ngân hoa kháng khuẩn được với chủng E. Ngoài ra, chúng còn có tác dụng kháng khuẩn từ các loại nấm khác,…Ngoài khả năng chống khuẩn, kim ngân hoa còn phát huy tác dụng trong việc ức chế các loại virus chữa bệnh khác. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, vị thuốc này là loại dược liệu quý giá làm nền tảng chống mầm bệnh.

Điều này có được là do chúng chứa chiết xuất như axit 6 chlorogenic, acid caffeoylquinic, flavonoid… Đây là những hoạt chất ức chế kháng virus trong giác mạc, phổi, hệ hô hấp. Giới thiệu chung cây Vót vàng nhạt (Viburnum lutescens Blume.) Vót vàng nhạt là loại cây thân bụi sống lâu năm, cao 3-6 m. Thân gỗ mọc thành bụi. Lá mọc đối xứng thành hai dãy, hình bầu dục có răng cưa.

Hoa màu trắng và ra hoa có quả vào khoảng tháng 11,12 hàng năm. Chúng mọc tự nhiên trong rừng thưa, ven rừng phân bố rộng rãi ở Nam Mỹ (Peru), phương Tây, Châu Á (Philippines và Malaysia) và Trung Quốc. Ở Việt Nam, Vót vàng nhạt phân bố tại các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Nghệ An, Kon Tum (Kon Plông, Mang Cành), Lâm Đồng (Bảo Lộc)…. Vót vàng nhạt đã được dân gian sử dụng làm thuốc để điều trị các bệnh khác nhau, chẳng hạn như, ho, tiêu chảy, viêm khớp dạng thấp.

Lá của chúng có thể chữa bệnh sởi, cành và lá sắc uống chữa viêm tắc buồng trứng, cũng dùng nấu nước tắm cho phụ nữ mới sinh mau lại sức…. Dưới đây là hình ảnh của cây Vót vàng nhạt: Hình 1. Hình ảnh cây Vót vàng nhạt 1. Nghiên cứu thành phần hóa học của chi Viburnum Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học các loài thuộc chi Viburnum.

Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện được trên 200 hợp chất thuộc chi Viburnum. Thành phần chủ yếu 7 của chi này là các nhóm chất thuộc nhóm diterpene, triterpene, iridoid, monoterpene, sesquiterpene, flavonoid, lignan, phenol, coumarin, lactone, alkaloid và một số các hợp chất khác có cấu trúc phức tạp. Tuy nhiên, theo kết quả tìm kiếm của, hiện chưa có nghiên cứu nào về thành phần hóa học cũng như hoạt tính sinh học của cây vót vàng nhạt ở Việt Nam. Các hợp chất Diterpene.

1 2 3 4 5 6 7 8 9 11 10 12 14 R = H 16 13 15 R = Me 8 Diterpene là thành phần chủ yếu của chi này, có 86 diterpene được phân lập từ chi này. Các diterpene loại vibsanin có thể được coi là sản phẩm tự nhiên khá hiếm, chúng chỉ có trong chi Viburnum. Từ ba loài (V. suspensum) đã phân lập được vibsanin A-F (1-6), vibsanin I (9), vibsanin L-M (11,12), aldovibsanins A-C (22-24), vibsanols A-B (84, 85) cùng sáu diterpenes khác(61, 79-83).

odoratissimum đã phân lập được vibsanins G, H, K và O-W (7, 8, 10, 13-21), furanovibsanins A-G (25-31), neovibsanins A-D, G-I (32- 35, 37-39), spirovibsanin A (40) cùng với 21 diterpene là (58-60, 62-78, 86).awabuki đã thu được neovibsanin F (36) và gomojosides A-Q (41-57). 17 18 19 20 22 21 23 24 25 26 27 28 9 29 30 31 34 32 R1 = MeO, R2 =Me 33 R1 = Me, R2 =MeO 35 36 37 38 41 40 39 43 44 42 10 45 46 47 49 50 48 51 52 53 54 55 56 59 57 58 60 61 62 R = MeO 63 R = OOH 11 R1 R2 R3 64 Me OH H 65 Me MeO H 66 MeO Me H 67 Me MeO OH 68 69 70 71 R1 = MeO, R2 = H 73 72 R1 = H, R2 = MeO 76 R1 = OH, R2 = H 75 77 R1 = OOH, R2 = H 74 78 R1 = OOH, R2 = Me 79 80 81 84 85 82 (14R) 83 (14S) 12 86 87 1. Các hợp chất Triterpene Ba bảy hợp chất triterpene đã được phân lập từ chi Viburnum bao gồm damarnane, ursane và oleanane. dilatatum đã phân lập được các hợp chất Viburnols A-K (87-97), viburnudienone B1 methyl ester (101), viburnudienone B 2methyl ester (102), viburnudienone H1 và H2 (105,106), viburnenone B1 methyl ester (103), viburnenone B2 methyl ester (104).

urceolatum thu được α -amyrin palmitate, lupeol palmitate, β-amyrin axetate và axit ursolic (108-111). Viburolide (113) được phân lập từ V. Năm triterpene (98-100, 107, 112) được phân lập từ V. Ba triterpene (114-116) phân lập từ V.

Ba triterpene (121-123) phân lập từ V. Hai triterpene (117, 118) phân lập từ V. El-Gamal cũng đã thu được hai triterpene (119,120) từ loài V. 88 90 89 91 92 93 13 94 95 96 97 98 99 100 108 109 107 110 111 112 14 114 R1 = H, R2 = H 113 117 R = β - OH 115 R1 = OH, R2 = H 118 R = α – OH 116 R1 = H, R2 = OH 119 120 121 123 122 1.

Các hợp chất Iridoid. Năm mươi ba Iridoid đã được phân lập từ chi này Viburtinosides A-B (124,125), Viburtinosides I-V (141-145), suspensolides A-F (146,147) phân lập được từ V. Năm 2004-2005, Fukuyama và cộng sự đã phân lập được các luzonials A-B (126,127), luzonidials A-B (128,129), luzonosides A-D (130-133), luzonoid A-G (134-140) từ V. Furcatoside A-C (148- 150) phân lập từ V.

Urceolatoside A-D (151-154) được phân lập từ V. Isoviburtinoside II-III (166,167), isosuspensolide E-F (168,169) và năm loại iridoid (161-165) phân lập từ V. Ba iridoid 2󠄣′-Acetyldihydropenstemide, 2′-Acetylpatrinoside, 3′-Acetylpatrinoside (155- 157), cùng các hợp chất lantanoside (175), dihydropenstemid (176) đã được 15 phân lập từ V. Ba iridoid (170-172) thu được từ V.

Hai iridoid Viburnalloside, Decapetaloside (173,174) được phân lập từ V. Hợp chất(158,159,160) thu được từ V. 126 R = (E) - p - coumaroyl 124 R = (E) - p - coumaroyl 127 R = (Z) - p - coumaroyl 128 R = (E) - p – coumaroyl 125 R = (Z) - p - coumaroyl 129 R = (Z) - p - coumaroyl 130 R = (E) - p - coumaroyl 134 R1 = (E) - p - coumaroyl, R2 = H 131 R = (Z) - p - coumaroyl 135 R1 = (Z) - p - coumaroyl, R2 = H 132 R = (E) - p - coumaroyl 133 R = (Z) - p - coumaroyl 136 R1 = H, R2 = (E) - p - coumaroyl 137 R1 = H, R2 = (Z) - p – coumaroyl R1 R2 R3 138 R1 = (E) - p - coumaroyl, R2 = H 141 Ac Ac H 139 R1 = (Z) - p - coumaroyl, R2 = H 142 (E) - p - coumaroyl H AcO 140 R1 = H, R2 = (E) - p - coumaroyl 143 (Z) - p - coumaroyl H AcO 144 Ac H AcO 145 Ac Ac OH 146 H H OH 16 147 148 150 151 152 153 R1 R2 R3 149 155 H Ac H 156 OH Ac H 158 R1 = OH, R2 = H 157 OH H Ac 159 R1 = H, R2 = p - coumaroyl 17 161 162 R1 = Ac, R2 = H 160 163 R1 = H, R2 = Ac 166 R1 = Ac, R2 = (E) - p - coumaroyl 167 R1 = Ac, R2 = (Z) - p - coumaroyl 164 165 168 R1 = Ac, R2 = H 169 = R1 = H, R2 = H 174 R1 R2 R3 170 Ac Ac Ac 173 171 p- coumaoyl H H 172 H Ac H 175 176 1. Monoterpenes Mười monoterpenes đã được phân lập từ chi này.

Betulalbuside A (177) được phân lập từ V. Urceolid (178), phlebotricoside (179) được phân 18 lập từ V. Betulalbuside B (180); anatolioside E (181); anatolioside (182), anatolioside A - D (183–186) phân lập từ V. Năm 1996, Fukuyama đã phân lập được 3 sesquiterpenes: awabukinol, 4-hydroperoxyawabukinol, 3-hydroperoxy yawabukinol (187–189) từ V.

Mười lăm flavonoids đã được phân lập từ chi này. Trong số đó, hai flavonoids (190,191) phân lập từ V. Hai flavonoid Cyanidin 3-O- sambubioside, kuromanin (192, 193) được phân lập từ chi V. Luteolin 3’-O-b-dxylopyranosyl-(1-2)-O-β-D-glucopyranoside (194) được phân lập từ V.

Ba flavonoids là astragalin, kaempferol 3-O-rutinoside, apigenin 7-O-b-d-glucoside (195,197,202) phân lập từ V. Flavonoids kaempferol 3-O-β-D-galactopyranoside (196) được phân lập từ V. Quercetine (198) được phân lập từ chi V. Ba flavonoids nobiletin, rutin, afzelin (199-201) được phân lập từ V.

Quercetine (198) phân lập từ V. Hai flavonoids, epicatechin (203) và catechin (204) phân lập từ V. Năm hợp chất lignans lần lượt 7R, Dihydrodehydrodiconferyl alcohol 4-O-β-D- glucopyranoside; 8R,Dihydrodehydrodiconferyl alcohol 4-O-β-D-glucopyranoside, 21 vibsanol, 9’-O-Methylvibsanol, dihydrodehydrodiconiferyl alcohol (205-209) được phân lập từ V. Phenols Hai hai phenols đã được phân lập từ chi này trong đó 2,3,4-Trihydroxybutyl 6-O-(E)-caffeoyl-β-D-glucopyranoside (210), cùng với bảy phenol khác từ (211; 219-224) đã được phân lập từ V.

Phlebotrichin, p-hydroquinone và arbutin (212-214) được phân lập từ chi V. Axit methyl este 3-O- caffeoylquinic (216); Hợp chất 4-O-caffeoylquinic (215) phân lập từ chi V. Axit methyl estes (217); Methyl estes 5-O-caffeoylquinic; Axit (218) được phân lập từ V. Hợp chất (225, 223) được phân lập từ V.

Hợp chất chavicol (227) phân lập từ chi V. Henryoside (228, 229) được phân lập từ V. (226, 230, 231) phân lập được từ V. 210 211 212 22 213 R = H 214 R = Gic 215 222 R1 R2 R3 216 H H Caffeoyl 217 H Caffeoyl H 219 218 Caffeoyl H H 2 2 220 23 21 2 24 225 226 227 229 228 231 230 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ