Chương 1 Một số vấn đề lý luận về hình phạt và hình phạt tiền 1. Khái niệm, mục đích của hình phạt và hình phạt tiền 1. Khái niệm, mục đích và hệ thống hình phạt 1. Khái niệm hình phạt Tội phạm và hình phạt là hai chế định cơ bản trong pháp luật hình sự của tất cả các quốc gia trên thế giới.
Nếu như tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật thì hình phạt ra đời bắt nguồn từ nhiệm vụ đấu tranh với tình hình tội phạm và để bảo vệ quyền lợi, duy trì điều kiện tồn tại của giai cấp thống trị, của nhà nước trong bất kỳ một chế độ xã hội nào. Dù là trong chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độ phong kiến, tư bản hay chế độ xã hội chủ nghĩa thì các nhà nước luôn coi hình phạt là một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của xã hội và nhà nước bởi "hình phạt không phải là một cái gì khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm các điều kiện tồn tại của nó" (C. Do đó, trong tất cả các biện pháp đấu tranh phòng và chống tội phạm thì hình phạt là biện pháp nghiêm khắc nhất, được áp dụng phổ biến và có lịch sử lâu đời nhất. Tuy nhiên, ở các giai đoạn lịch sử khác nhau, trong các quốc gia khác nhau không phải lúc nào cũng có những quan điểm thống nhất về bản chất, nội dung và mục đích của hình phạt.
Thông thường quan niệm về hình phạt phụ thuộc và tương ứng với quan niệm về tội phạm trong mỗi một hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Và cũng chính những quan điểm không giống nhau về khái niệm tội phạm mà ở mỗi thời kỳ, ở mỗi nhà nước, hình phạt lại có những tác động khác nhau đến người phạm tội, đến các thành viên khác trong xã hội cũng như đến tình hình tội phạm nói chung. Về cơ bản có hai quan niệm về hình phạt cần được xem xét: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quan niệm thứ nhất coi hình phạt là công cụ trả thù người phạm tội, tức là hình phạt được áp dụng để trừng phạt, trả thù người đã thực hiện hành vi vi phạm quy định của pháp luật hình sự. Theo đó, tính chất trừng trị của các hình phạt theo quan niệm này rất dã man, hà khắc.
Nhà nước cho phép áp dụng phổ biến và rộng rãi các hình phạt có tính chất nhục hình, đầy đọa thể xác và chà đạp lên phẩm giá của con người. Điều này được biểu hiện ở nhiều nhà nước chiếm hữu nô lệ và nhà nước phong kiến. Quan niệm thứ hai mang tính chất tiến bộ và nhân đạo hơn khi coi hình phạt là công cụ đấu tranh để phòng ngừa tội phạm. Theo đó, hình phạt được đặt ra không chỉ nhằm trừng trị người thực hiện hành vi phạm tội mà còn nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm.
Mục đích cuối cùng được đặt ra đối với việc áp dụng hình phạt trong trường hợp này là hạn chế và đi đến triệt tiêu các nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, tiến tới loại bỏ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Quan điểm này về tội phạm và hình phạt được biểu hiện rất sâu sắc trong các nhà nước dân chủ tiến bộ. Có thể nói, việc quan niệm thế nào về hình phạt phụ thuộc rất nhiều vào chính sách kinh tế - xã hội nói chung và chính sách hình sự nói riêng của mỗi một quốc gia. Pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay cho thấy chúng ta đã kết hợp hài hòa trong việc kế thừa truyền thống văn hóa nhân đạo chủ nghĩa với việc tiếp thu những tinh hoa văn minh của luật hình sự thế giới, đồng thời có xét đến thực trạng và yêu cầu của cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm trong thực tế để xây dựng những vấn đề có liên quan đến hình phạt, mà trước tiên là khái niệm hình phạt.
Về cơ bản, các nhà khoa học hình sự đã luôn coi hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm, nhằm mục đích giáo dục, cải tạo người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm. Điều đó biểu hiện trong các quan niệm cụ thể như sau: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Uông Chu Lưu, TS. Nguyễn Đức Tuấn đưa ra khái niệm: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do Tòa án áp dụng đối với người thực hiện tội phạm theo quy định của luật hình sự, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích nhất định của người bị kết án nhằm mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm" [13].
Lê Văn Cảm cũng cho rằng: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước được quyết định trong bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của Tòa án để tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án theo các quy định của pháp luật hình sự" [8]. Đỗ Ngọc Quang coi hình phạt là: "biện pháp cưỡng chế rất nghiêm khắc của Nhà nước được quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và mục đích nhất định với mục đích cải tạo giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân" [Dẫn theo 6]. Võ Khánh Vinh định nghĩa: "Hình phạt là biện pháp cưỡng chế do Tòa án quyết định trong bản án đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội phạm và được thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật quy định đối với người bị kết án" [38]. Nguyễn Ngọc Hòa và TS.
Lê Thị Sơn thì hình phạt "là biện pháp cưỡng chế nhà nước được luật hình sự quy định và do Tòa án áp dụng có nội dung tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội nhằm rse41cũng như nhằm giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm" [10]. Với những cách diễn đạt khác nhau song nhìn chung nội hàm của các khái niệm trên không có sự khác biệt. Chúng ta có thể kết hợp những ưu điểm từ những khái niệm nêu trên cũng như căn cứ vào bản chất của hình phạt để đưa ra một khái niệm khoa học về hình phạt như sau: Hình phạt là biện pháp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cưỡng chế nghiêm khắc của Nhà nước quy định trong luật hình sự do Tòa án áp dụng đối với người phạm tội nhằm tước bỏ hay hạn chế quyền, tự do của người bị kết án với mục đích cải tạo, giáo dục người phạm tội và ngăn ngừa tội phạm. Như vậy, tuy Bộ luật Hình sự đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1985 chưa quy định cụ thể khái niệm về hình phạt song ngay từ trước khi khái niệm về hình phạt chính thức được ghi nhận trong một văn bản pháp lý thì các nhà khoa học luật hình sự nước ta đều đã thống nhất trong việc đánh giá về bản chất, nội dung cũng như mục đích của hình phạt.
Những quan điểm khoa học đó là một trong những cơ sở lập pháp quan trọng cho sự ra đời của khái niệm hình phạt theo Điều 26 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Theo đó: Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, nhằm tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt được quy định trong Bộ luật Hình sự và do Tòa án quyết định [22]. Khái niệm trên cho thấy trước hết hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước.
Tính nghiêm khắc ở đây thể hiện ở chỗ người bị kết án bị tước đi các quyền và lợi ích thiết thân nhất như quyền tự do, quyền chính trị, quyền sở hữu, thậm chí cả quyền sống. Ví dụ như khi bị kết án ba năm tù giam thì đồng nghĩa với việc họ bị mất quyền tự do trong thời hạn ba năm khi chấp hành án phạt tù, bên cạnh đó các quyền khác của người chấp hành hình phạt cũng bị ảnh hưởng trong thời gian họ thực hiện án phạt giam đó. Mặt khác, hình phạt bao giờ cũng để lại cho người bị kết án hậu quả pháp lý là án tích. Và trong trường hợp chưa được xóa án tích thì người bị kết án và thi hành hình phạt chưa được hoàn toàn chấm dứt việc thực hiện trách 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệm pháp luật hình sự.
Đây là hậu quả để lại mà không có ở bất kỳ một biện pháp cưỡng chế nào khác của Nhà nước. Chẳng hạn một người bị kết án phạt tù có thời hạn năm năm thì năm năm sau khi chấp hành xong hình phạt theo quy định của Điều 64 Bộ luật Hình sự năm 1999 thì người đó vẫn bị coi là đang mang án tích. Mặc dù có thể thấy hình phạt luôn là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của các nhà nước song không phải trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, tính chất và mức độ nghiêm khắc của hình phạt do các nhà nước áp dụng là hoàn toàn giống nhau. Phù hợp với mỗi một chế độ kinh tế - xã hội, mỗi nhà nước lại đưa ra những hình phạt áp dụng khác nhau với từng tội phạm cụ thể để tính nghiêm khắc của hình phạt phát huy được hiệu quả cao nhất trong việc đạt được mục đích của hình phạt.
Hình phạt trong luật hình sự Việt Nam bên cạnh sự nghiêm khắc của tính cưỡng chế còn mang nội dung giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tội phạm, thể hiện tính ưu việt và tính nhân đạo của chế độ xã hội chủ nghĩa với tư tưởng trừng trị là cơ sở để giáo dục, cải tạo; giáo dục, cải tạo là sự phát huy tính tích cực của trừng trị. Thứ hai, hình phạt chỉ có thể áp dụng đối với người thực hiện hành vi phạm tội hay nói một cách khác hình phạt là hậu quả pháp lý của tội phạm. Các dấu hiệu tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, tính trái pháp luật hình sự gắn liền với tính chịu hình phạt của tội phạm. Điều này thể hiện rõ nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa cũng như nguyên tắc: "Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật Hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự" đã được ghi nhận tại Điều 2 Bộ luật Hình sự năm 1999.