Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Tư duy là một trong những lĩnh vực được nghiên cứu nhiều và rất sớm trong tâm lí học, vì vậy có rất nhiều các thành tựu khoa học ở trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này. Được coi là những người đầu tiên nghiên cứu về tư duy, các nhà tâm lí học Wurzburg đã đi đến những kết luận về bản chất của tư duy. Theo họ, tư duy là hành động bên trong của chủ thể nhằm xem xét các mối quan hệ.
Việc xem xét các mối quan hệ này diễn ra độc lập với việc tri giác các thành phần tham gia quan hệ, thành thử quá trình tư duy diễn ra không cần sự hỗ trợ của các biểu tượng cảm tính, rời rạc. Hành động tư duy là công việc của "cái tôi", của chủ thể. Nó chịu ảnh hưởng của nhiệm vụ (bài toán tư duy). Khi chủ thể nhận ra bài toán có nghĩa là đã biến các chỉ dẫn từ bên ngoài thành tự chỉ dẫn trong quá trình giải quyết nhiệm vụ.
Các công trình của O.Selz đã chỉ ra thực chất của tư duy là sự vận hành liên tục của các thao tác tư duy, tái tạo và sáng tạo để giải quyết bài toán tư duy như một nhiệm vụ chỉnh thể. Quá trình này diễn ra qua nhiều giai đoạn. Trong đó giai đoạn nhận thức đầu bài toán và cấu trúc lại nó, tạo ra tình huống có vấn đề cho tư duy là quan trọng nhất. Có thể nói, thực chất của quá trình giải quyết bài toán tư duy là quá trình cấu trúc lại bài toán đó.
Trong quá trình giải các bài toán, chủ thể phải thường xuyên phải sử dụng các thao tác trí tuệ như phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá v. Trong các công trình nghiên cứu của mình về việc học của trẻ, J. Bruner (nhà tâm lý học người Mỹ) nhấn mạnh vai trò quan trọng của ngôn ngữ đối với sự phát triển tư duy: “Tư duy dẫn đến ngôn ngữ nhưng xét cho cùng, ngôn ngữ chịu trách nhiệm về việc phát triển tư duy theo hướng tích cực”. Bruner xem việc học như là một quá trình chủ động, mang tính xã hội trong đó người học kiến tạo ý tưởng hoặc khái niệm mới dựa trên kiến thức đã biết.
Ông cho rằng giáo dục nên giúp trẻ trải qua sự làm chủ về tri thức và nhận thức. Điều này rất có lợi đối với người học bởi vì họ có thể tiếp cận những thông tin mà trước đây họ chưa được biết đến. Bruner còn nhấn mạnh đến vai Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trò của chiến lược được sử dụng trong dạy học chứ không chỉ bản thân môi trường học…[dẫn theo 39]. Nghiên cứu về quá trình tư duy, Benjamin Bloom và các đồng nghiệp đã xây dựng thành công thang phân loại tư duy bao gồm sáu bậc sắp xếp theo trình tự từ thấp đến cao: biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá được sử dụng rộng rãi trên thế giới.
Sang những năm 1990, thang tư duy này được chỉnh lại bởi Lorin Anderson - một học trò và sau này cũng là đồng nghiệp của Bloom, với mong muốn thang phân loại tư duy phù hợp hơn và đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn trong thế kỷ XXI. Theo đó, thang phân loại tư duy đổi thành: nhớ, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo. Thang phân loại tư duy của Bloom đã được sử dụng rộng rãi trong việc thiết kế chương trình học và mục tiêu học tập, kiểm tra đánh giá, …, qua đó đánh giá được hành vi cũng như khả năng của người học thông qua mức độ khả năng tư duy của họ. Một số nghiên cứu về tư duy, kĩ năng tư duy được thực hiện như: Tại sao phải dạy tư duy (R.
Nickerson); Các hình thức tư duy: quan điểm tích hợp trong việc dạy các kĩ năng tư duy (D.N Perkins); Dạy tư duy: Mô hình phát triển nhằm đưa các kĩ năng tư duy vào quá trình giảng dạy (R. Swartz), Đánh giá các kĩ năng tư duy tại lớp học (J. Ở Việt Nam, nhiều nhà nghiên cứu giáo dục có các nghiên cứu về việc rèn luyện, phát triển tư duy cho HS như: tác giả Trần Thúc Trình (2003) với tài liệu “Rèn luyện tư duy trong dạy học toán” dùng cho học viên cao học của Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam [41]; Lê Đức Ngọc (2004) với “Dạy và Học tư duy” đăng trên Tạp chí phát triển giáo dục, số 12 [37]; “Tư duy và việc dạy tư duy cho HS” của tác giả Phan Thị Hạnh Mai (2004), Tạp chí giáo dục số 79 [36]. Các tác giả Vũ Quốc Chung, Trần Thị Lan Hương (1994) nghiên cứu “Phát triển tư duy cho HS lớp 5 qua dạy học bài toán có nội dung hình học” tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 8 [8], Hoàng Lê Minh nghiên cứu “Rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS khi thảo luận nhóm trong giờ học môn Toán”, Tạp chí giáo dục, số 163 [35], Trần Ngọc Lan nghiên cứu “Rèn luyện kĩ năng tư duy sáng tạo cho HS tiểu học thông qua hoạt động tạo lập bài toán từ các tình huống mở”, Tạp chí Giáo dục, số 227 [33], … đã đề cập đến các nội dung này.
Đã có một số luận án tiến sĩ bảo vệ thành công nghiên cứu về vấn đề phát triển năng lực tư duy của HS có Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thể kể đến như: Vũ Quốc Chung (1995) với luận án: “Góp phần hoàn thiện nội dung và phương pháp dạy học yếu tố hình học theo hướng bồi dưỡng một số năng lực tư duy cho HS tiểu học” [10], Nguyễn Thị Kim Thoa (2008), “Rèn luyện kĩ năng tiền chứng minh cho HS lớp 5 thông qua dạy học các yếu tố hình học” [40],. đã nghiên cứu, đề xuất các biện pháp để bồi dưỡng, phát triển năng lực tư duy, năng lực tư duy sáng tạo, tư duy phê phán, tư duy lôgic, tư duy biện chứng,. cho HS thông qua các nội dung dạy học môn Toán ở các cấp học khác nhau. Một số tác giả cũng đã công bố kết quả nghiên cứu của mình như Trần Ngọc Lan, Trương Thị Tố Mai với cuốn sách “Rèn luyện tư duy cho HS trong dạy học toán bậc Tiểu học” đã góp phần trả lời câu hỏi: Tư duy là gì? Tại sao phải rèn luyện tư duy cho HS ngay từ cấp tiểu học? Có những biện pháp nào để rèn luyện tư duy cho HS trong dạy toán ở tiểu học? Liệu có phải cứ cho HS làm thật nhiều bài tập toán là rèn luyện tư duy không? [34].
Tác giả Đỗ Tùng với “Hình thành kĩ năng tư duy cho HS lớp 4, lớp 5 thông qua dạy học giải toán” đã góp phần chỉ ra được biểu hiện cụ thể của kĩ năng tư duy trong giải toán của HS lớp 4, lớp 5 cũng như các tiêu chí để đánh giá kĩ năng tư duy trong giải toán của HS từ đó đề xuất được 4 biện pháp giúp GV hình thành các kĩ năng tư duy cho HS lớp 4, lớp 5 thông qua dạy học giải toán [39]. Như vậy, có thể nói trên thế giới và tại Việt Nam, các nghiên cứu về tư duy, năng lực tư duy,. và tác động đến HS trong quá trình học tập để phát triển, nâng cao năng lực tư duy cho HS đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, qua tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề chúng tôi nhận thấy chưa có tác giả nào đề xuất các biện pháp rèn luyện kĩ năng tư duy cho HS lớp 5 qua dạy học chủ đề Số thập phân.
Khái niệm tư duy Các nhà nghiên cứu giáo dục quan niệm về tư duy như sau: “Tư duy là giai đoạn cao nhất của quá trình nhận thức, đi sâu vào bản chất và phát hiện ra tính quy luật của sự vật bằng những hình thức như biểu tượng, khái niệm, phán đoán và suy lí” [16]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Phạm Minh Hạc quan niệm “Tư duy là một quá trình tâm lí phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó chủ thể nhận thức chưa biết” [20]. Trần Thúc Trình cho rằng “Tư duy là quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó chưa ai biết” [41]. Như vậy, có thể hiểu Tư duy là giai đoạn cao nhất của quá trình nhận thức, phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng mà trước đó chủ thể nhận thức chưa biết.
Đặc điểm của tư duy a) Tính có vấn đề Tư duy chỉ nảy sinh khi con người gặp những hoàn cảnh, những tình huống mà chỉ bằng những hiểu biết đã có, bằng phương pháp đã có, con người không chỉ giải quyết được các nhiệm vụ đề ra cho họ trong tình huống đó. Để giải quyết được các nhiệm vụ đó, con người phải vượt ra khỏi phạm vi của những hiểu biết và những phương thức hành động cũ và đi tìm cái mới, phương thức hành động mới, đạt được mục đích mới. Lúc đó con người nảy sinh tư duy. b) Tính gián tiếp Tư duy được biểu hiện trong ngôn ngữ, thông qua ngôn ngữ.
Tư duy còn được nhận thức gián tiếp nhờ các công cụ (nhiệt kế, đồng hồ, …) c) Tính trừu tượng và tính khái quát Tư duy có khả năng trừu xuất khỏi sự vật, hiện tượng những thuộc tính, dấu hiệu không bản chất, chỉ giữ lại những thuộc tính, dấu hiệu bản chất của sự vật, hiện tượng từ đó khái quát chúng thành nhóm, lớp (biểu thị bằng khái niệm). Tính khái quát: Tư duy có khả năng phản ánh những thuộc tính chung, những mối liên hệ, quan hệ có tính quy luật của hàng loạt sự vật, hiện tượng. d) Tư duy có mối quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện của tư duy. Nhờ có ngôn ngữ mà con người truyền đạt được tư tưởng, nhận thức được tình huống có vấn đề, phản ánh được bản chất, các mối quan hệ của sự vật, hiện tượng.
Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư duy. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.