Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ XUẤT, NHẬP KHẨU TẠI CƠ QUAN HẢI QUAN CẤP CHI CỤC 1. Cơ sở lý luận về thuế xuất, nhập khẩu và quản lý thu thuế xuất, nhập khẩu tại cơ quan hải quan cấp chi cục 1. Khái quát về thuế xuất, nhật khẩu 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của thuế xuất, nhập khẩu * Khái niệm thuế xuất, nhập khẩu Khái niệm thuế, theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công”, “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà nước” [17, tr.
Trên góc độ phân phối thu nhập, thuế được định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Trên góc độ người nộp thuế: Thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước. Trên góc độ kinh tế học: Thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, nhà nước sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công nhằm thực hiện các chức năng kinh tế - xã hội của nhà nước. Các quan niệm trên đây, tuy cách diễn đạt khác nhau, song đều thống nhất ở những nội dung chính sau: Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc cho nhà nước do luật pháp quy định đối với các pháp nhân và thể nhân thuộc đối tượng chịu thuế, là nghĩa vụ bắt buộc mọi tổ chức và thành viên trong xã hội phải nộp vào NSNN nhằm đáp LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước.
Thuế là một bộ phận của cải từ khu vực tư chuyển vào khu vực công nhằm trang trải những chi phí nuôi sống bộ máy nhà nước và trang trải các chi phí công cộng mang lại lợi ích chung cho cộng đồng. Thuế là hình thức phân phối lại bộ phận nguồn tài chính của xã hội, không mang tính hoàn trả trực tiếp cho người nộp. Do đó, tại thời điểm nộp thuế, người nộp thuế không được hưởng bất kỳ một lợi ích nào mà xem như đó là trách nhiệm và nghĩa vụ đối với nhà nước. Như vậy, thuế mang tính cưỡng chế và được thiết lập theo nguyên tắc luật định.
Từ những phân tích trên đây, có thể nhận thức về thuế như sau: Thuế là một hình thức huy động bắt buộc của nhà nước, thuộc phạm trù phân phối nhằm tập trung một bộ phận nguồn lực của cải xã hội vào NSNN để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước thích ứng từng giai đoạn phát triển của đời sống kinh tế - xã hội. Có thể phân chia thuế theo nhiều tiêu thức khác nhau: - Theo phạm vi điều chỉnh của thuế, thuế được phân thành thuế tổng hợp và thuế có lựa chọn. Thuế tổng hợp: Là loại thuế đánh vào tất cả các thành phần của cơ sở thuế mà không có trường hợp ngoại lệ, không có miễn, giảm thuế; Thuế có lựa chọn: Là loại thuế chỉ đánh vào một phần nhất định của cơ sở thuế. - Theo tính chất điều tiết của thuế, thuế được phân thành thuế trực thu và thuế gián thu.
Thuế trực thu: Là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế đồng thời là một; Thuế gián thu: Là loại thuế mà người nộp thuế và người chịu thuế không đồng thời là một. Người nộp thuế là người sản xuất hoặc người kinh doanh hàng hóa, còn người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa đó. Khái niệm thuế xuất, nhập khẩu, trong cấu trúc hệ thống thuế của một quốc gia thì thuế xuất, nhập khẩu có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn nó là công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát hoạt động xuất, nhập khẩu hàng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 hoá với nước ngoài, điều tiết chính sách xuất, nhập khẩu, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại trong từng thời kỳ. Có nhiều cách hiểu về thuế xuất, nhập khẩu: Xét về phương diện kinh tế, thuế XNK là khoản đóng góp bằng tiền của các tổ chức, cá nhân vào NSNN theo quy định của pháp luật khi họ có hành vi xuất, nhập khẩu hàng hoá qua biên giới của một nước.
Thuế XNK còn là đòn bẩy kinh tế để nhà nước điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi của mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Xét về phương diện pháp lý, thuế xuất, nhập khẩu là quan hệ phát sinh giữa nhà nước (là người thu thuế) với tổ chức, cá nhân (người nộp thuế) về việc tạo lập các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hình thành thu thuế xuất, nhập khẩu. Quan hệ pháp luật này phát sinh từ cơ sở pháp lý là đạo luật thuế xuất, nhập khẩu do Quốc hội ban hành mà hậu quả pháp lý chủ yếu của việc áp dụng đạo luật đó trong thực tiễn là làm phát sinh quyền thu thuế cho nhà nước và nghĩa vụ đóng thuế cho các tổ chức, cá nhân người nộp thuế. Việc tiếp cận thuế xuất, nhập khẩu ở góc độ pháp lý có nhiều ý nghĩa thiết thực, trước hết là giúp chúng ta nhận rõ hơn bản chất của thuế xuất, nhập khẩu, thực chất là một quyết định hành chính đơn phương của một quốc gia đối với người đóng thuế.
Trên cơ sở lý thuyết đó giúp nhà nước hoạch định và thực thi chính sách thuế xuất, nhập khẩu phù hợp với quyền lợi của quốc gia và người đóng thuế, xét trong mối quan hệ lợi ích với các quốc gia khác trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Thuế nhập khẩu: Là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ nước ngoài NK vào quốc gia hay vùng lãnh thổ đó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thuế xuất khẩu: Là một loại thuế mà một quốc gia hay vùng lãnh thổ đánh vào hàng hóa có nguồn gốc từ trong nước XK sang quốc gia hay vùng lãnh thổ khác. Về mặt nguyên tắc, thuế xuất, nhập khẩu phải được nộp trước khi thông quan, trừ khi có các chính sách ân hạn thuế hay có bảo lãnh nộp thuế, nên đây có thể coi là một trong những loại thuế dễ thu nhất, và chi phí để thu thuế xuất, nhập khẩu là khá nhỏ.
* Đặc điểm của thuế xuất, nhập khẩu Thứ nhất, thuế xuất, nhập khẩu mang tính quyền lực nhà nước; thuế xuất, nhập khẩu có sự gắn bó mật thiết không thể tách rời với Nhà nước, Nhà nước cần có thuế xuất, nhập khẩu để đáp ứng phần nào nhu cầu chi tiêu của mình; Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế xuất, nhập khẩu một mặt để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước, mặt khác qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước. Thứ hai, thuế xuất, nhập khẩu là loại thế chỉ gắn liền với hoạt động ngoại thương, vì thuế XNK đánh vào hàng hoá giao thương qua các biên giới quốc gia, nhóm quốc gia, hình thành và gắn liền với các hoạt động thương mại quốc tế. Thứ ba, mang tính pháp lý cao, là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. Thứ tư, chứa đựng các yếu tố kinh tế xã hội, chịu ảnh hưởng trực tiếp của các yếu tố quốc tế như sự biến động kinh tế thế giới, xu hướng thương mại quốc tế.
Điều đó được thể hiện ở chỗ thuế xuất, nhập khẩu là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế thuế xuất, nhập khẩu vào ngân sách nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ cũng như các hiệp định thương mại song phương đa phương. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Thuế xuất, nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là: - Thuế xuất, nhập khẩu chỉ đánh vào hàng hoá được phép xuất, nhập khẩu qua biên giới của một nước, kể cả hàng hoá từ khu chế xuất đưa vào tiêu thụ trong nước. - Thuế xuất, nhập khẩu là một loại thuế gián thu bởi vì thuế được cấu thành trong giá cả hàng hoá xuất, nhập khẩu, người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hoá xuất, nhập khẩu đó, Nhà nước thu thuế xuất, nhập khẩu của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hoá xuất, nhập khẩu. - Trong điều kiện nền kinh tế của các nước đang phát triển như Việt Nam, nguồn thu ngân sách nhà nước từ các sắc thuế nội địa chưa đảm bảo, nhu cầu xuất khẩu hàng hóa cũng như tiêu dùng hàng nhập khẩu lớn, thì thuế xuất, nhập khẩu là một nguồn thu lớn và tương đối ổn định cho ngân sách nhà nước, bởi vì thuế xuất, nhập khẩu nằm trong giá cả hàng hoá xuất, nhập khẩu nên số thuế xuất, nhập khẩu thu được tăng tỷ lệ thuận với quy mô hàng hoá xuất, nhập khẩu.
- Thuế xuất, nhập khẩu không phân biệt đối tượng chịu thuế là người như thế nào (giàu hay nghèo), nếu xuất khẩu cùng một loại hàng thì số thuế phải nộp như nhau, hay tiêu dùng một loại hàng hoá nhập khẩu thì số thuế phải nộp cũng như nhau. * Vai trò của thuế xuất, nhập khẩu Một là, thuế xuất, nhập khẩu là nguồn thu quan trọng của NSNN. Việc mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế, hội nhập với thế giới ngày càng sâu rộng dẫn đến hoạt động thương mại ngày càng phát triển, khối lượng hàng hoá XNK ngày càng gia tăng. Trên thực tế, nguồn thu từ thuế hàng hoá XNK thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng thu NSNN.
Trong tiến trình hội nhập kinh tế thể hiện bằng việc thực hiện các cam kết quốc tế, vai trò này sẽ có xu hướng giảm xuống nhưng vẫn đóng vai trò rất lớn như một tất yếu khách quan.