Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO NGHỀ TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN 1. Cơ sở lý luận về đào tạo nghề và quản lý đào tạo nghề 1. Khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về đào tạo nghề Đào tạo: là quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm mục đích truyền đạt các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực hành, đồng thời tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động nghề nghiệp cần thiết.
Kết quả của quá trình đào tạo là người học đạt được trình độ chuyên môn, nghề nghiệp theo quy định và được cấp bằng tương ứng. Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc của người học, tạo cho người học khả năng đáp ứng được tiêu chuẩn và hiệu quả của công việc chuyên môn. (Trần Xuân Cầu, 2013) Đào tạo nghề: hiện nay, có nhiều định nghĩa về đào tạo nghề (còn được gọi là dạy nghề): Tổ chức LĐ quốc tế (ILO - International Labour Organization) có định nghĩa “Đào tạo nghề là cung cấp cho người học những kỹ năng cần thiết để thực hiện tất cả các công việc liên quan đến nghề nghiệp họ được giao”. Theo Luật Đào tạo nghề năm 2006 thì: “Đào tạo nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học”.
Mục tiêu đào tạo nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tương ứng với trình độ đào tạo, có đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho người học nghề sau khi tốt nghiệp có khả năng đi tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn, đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đào tạo nghề bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là: - Hoạt động đào tạo nghề: Là quá trình giảng viên truyền thụ những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 - Hoạt động học nghề: là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người LĐ để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định (Phạm Văn Kha, 1999). Phân loại các hình thức đào tạo nghề a.
Căn cứ vào nghề đào tạo với người học - Đào tạo mới: đây là hình thức đào tạo nghề áp dụng cho những người chưa có chuyên môn, chưa có nghề (đào tạo mới để đáp ứng yêu cầu tăng thêm LĐ có nghề cho xã hội). - Đào tạo lại: là quá trình đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật, dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người LĐ có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề. - Đào tạo nâng cao trình độ lành nghề : là quá trình bồi dưỡng nâng cao kiến thức và kinh nghiệm làm việc để người LĐ có thể đảm nhận được những công việc phức tạp hơn.
Bồi dưỡng có thể coi là quá trình cập nhật hoá kiến thức còn thiếu, đã lạc hậu, bổ túc nghề, đào tạo thêm hoặc củng cố các kỹ năng nghề nghiệp theo từng chuyên môn và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ hay nâng lên bậc cao hơn. Căn cứ vào thời gian đào tạo nghề - Đào tạo nghề dưới 3 tháng: được thực hiện từ 01 đến dưới 03 tháng. Theo các chuyên gia, thời gian tối thiểu để có thể truyền đạt kiến thức và kỹ năng nghề đơn giản cũng phải cần tối thiểu 1 tháng. Kết thúc khóa học, người học được cấp chứng chỉ nghề.
- Đào tạo nghề trình độ SCN: được thực hiện từ 03 tháng đến dưới 01 năm. Đào tạo nghề trình độ sơ cấp nhằm trang bị cho người học nghề năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề. Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp chứng chỉ sơ cấp nghề. - Đào tạo nghề trình độ TCN: được thực hiện từ 01 đến 02 năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT; từ ba đến bốn năm học tuỳ theo LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THCS.
Đào tạo nghề trình độ trung cấp nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề; có khả năng làm việc độc lập và ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc. Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp bằng tốt nghiệp TCN. - Đào tạo nghề trình độ CĐN: được thực hiện từ 02 đến 03 năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp THPT; từ một đến hai năm học tuỳ theo nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp TCN cùng ngành nghề đào tạo. Đào tạo nghề trình độ CĐN nhằm trang bị cho người học nghề kiến thức chuyên môn và năng lực thực hành các công việc của một nghề, có khả năng làm việc độc lập và tổ chức làm việc theo nhóm; có khả năng sáng tạo, ứng dụng kỹ thuật, công nghệ vào công việc; giải quyết được các tình huống phức tạp trong thực tế.
Kết thúc khóa học nghề, người học được cấp bằng tốt nghiệp CĐN (Bùi Tôn Hiến, 2010). Hệ thống tổ chức đào tạo nghề a. Trường Cao đẳng nghề Nhiệm vụ chủ yếu của trường CĐN là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ CĐN, TCN và SCN nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường LĐ. Trường Trung cấp nghề Nhiệm vụ chủ yếu của trường TCN là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ TCN, sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đạo đức nghề nghiệp, ý thức tổ chức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.
Trung tâm đào tạo nghề Nhiệm vụ chủ yếu của trung tâm đào tạo nghề là tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở trình độ sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 học năng lực thực hành một nghề đơn giản hoặc năng lực thực hành một số công việc của một nghề. Cơ sở khác có tham gia đào tạo nghề Bao gồm các trường đại học, trường cao đẳng, các trung tâm khác như trung tâm giới thiệu việc làm, trung tâm kỹ thuật tổng hợp hướng nghiệp…, các DN có tham gia hoạt động đào tạo nghề và đủ điều kiện được cấp giấy phép đào tạo nghề theo quy định. Khái niệm quản lý đào tạo nghề Quản lý đào tạo là quá trình tác động có hướng đích của chủ thể quản lý đào tạo ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các yếu tố của quá trình đào tạo cũng như quy trình đào tạo nhằm đạt đến mục tiêu đào tạo đề ra. Quản lý đào tạo là một quá trình tổ chức lập kế hoạch, điều khiển, kiểm tra, đánh giá các hoạt động đào tạo của toàn bộ hệ thống theo kế hoạch và chương trình nhất định nhằm đạt được các mục tiêu của toàn hệ thống.
Quản lý đào tạo nghề thực chất là quản lý về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, hoạt động dạy, hoạt động học, cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện, môi trường, tổ chức thực hiện, tổ chức bộ máy. theo một trình tự, một quy trình vừa khoa học, vừa phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, đem lại hiệu quả trong công tác đào tạo (Trịnh Thị Giang, 2014). Nhiệm vụ của quản lý đào tạo nghề chính là ổn định duy trì quá trình đào tạo đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển của đất nước và đổi mới phát triển quá trình đào tạo đem lại hiệu quả kinh tế, chính trị, xã hội. Nội dung của quản lý đào tạo nghề 1.
Lập kế hoạch đào tạo Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng của quản lý là lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Lập kế hoạch là chức năng quan trọng đối với mỗi nhà quản lý bởi vì nó gắn liền với việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, giúp nhà quản lý xác định được các chức năng khác còn lại nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra. Kế hoạch chỉ ra con đường đi tới mục tiêu một cách chính xác muốn thực hiện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 được mục tiêu xác định cần phải chỉ rõ cách thức để đi tới mục tiêu và chuẩn bị các nguồn lực (nhân lực và vật lực) cũng như phân bổ các nguồn lực đó một cách hợp lý. Thiếu kế hoạch là nguyên nhân của những hoạt động manh mún, luôn bị động, thiếu sự phối hợp hiệu quả.
Kế hoạch làm tăng hiệu quả công việc, hạn chế rủi ro, là công cụ để các nhà quản lý kiểm tra, đánh giá việc thực hiện tiến độ các công việc. Kế hoạch giúp các nhà quản lý ứng phó được các thay đổi trong quá trình thực hiện mục tiêu nhiệm vụ một cách chủ động, linh hoạt đáp ứng mọi yêu cầu của xã hội. Cũng như vậy khi tiến hành tổ chức đào tạo một lớp nghề, cần phải xây dựng kế hoạch đào tạo cho lớp nghề đó, mỗi mô-đun học trong bao lâu, thời điểm nào sẽ kiểm tra mô-đun, thời điểm nào sẽ kiểm tra kết thúc để căn cứ vào đó giáo viên sẽ xây dựng kế hoạch giảng dạy cho riêng mình (Phan Chính Thức, 2003).