Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC GIÁO DỤC HÒA NHẬP CHO GIÁO VIÊN TIỂU HỌC 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài Năm 1973, một số bang của Mỹ đã có những quy định trong luật giáo dục của bang: “Phải lập kế hoạch giáo dục cá nhân để giáo dục và huấn luyện trẻ khuyết tật” [24]. Quốc hội Mỹ thông qua Luật giáo dục trẻ khuyết tật vào năm 1975, trong đó khẳng định: “Những người khuyết tật có Quyền được hưởng một nền giáo dục phù hợp nhằm đáp ứng những nhu cầu riêng biệt của họ.
Ngay sau đó, hàng loạt các công trình nghiên cứu của rất nhiều tác giả về kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật được công bố trong nước Mỹ và một số nước tiên tiến khác”. Trung Quốc chỉ cho những trường hợp trẻ bị khuyết tật thể chất nhẹ vào một chương trình xây dựng trường học mở rộng hay Áo đã có những động thái từ thập kỷ trước nhưng thiếu đà để tiếp tục phát triển [25]. Đầu những năm 2000, ở Canada hàng loạt các nghiên cứu về hòa nhập xã hội được thực hiện nhằm hướng đến xây dựng các tiêu chí đánh giá quá trình hòa nhập thành công của các đối tượng yếu thế trong xã hội cũng như tạo dựng các hoạt động tăng cường vai trò của thể chế, chính sách xã hội để nâng cao hiệu quả của hòa nhập xã hội. Các giá trị cơ bản của hòa nhập xã hội được tiếp cận ở Canada dựa trên những khía cạnh sau: Thứ nhất, giá trị của sự thừa nhận, nghĩa là hướng đến việc thừa nhận và tôn trọng cá nhân/nhóm, các giá trị chung và sự khác biệt; Thứ hai, sự phát triển cá nhân, đề cập đến việc nuôi dưỡng tài năng, khả năng và sự lựa chọn của trẻ em và người lớn để sống cuộc sống mà họ cảm thấy có giá trị và tạo ra được những đóng góp cho xã hội; Thứ ba, sự tham gia và gắn kết liên quan đến việc cá nhân có quyền và được trợ giúp cần thiết để tham gia vào việc ra quyết định liên quan đến bản thân họ, đến gia đình và cộng đồng và cùng gắn kết vào cuộc sống của cộng đồng; Thứ tư, giá trị về sự gần gũi, liên quan đến việc chia sẻ không gian và xã hội nhằm tạo các cơ hội để tương tác Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và làm giảm khoảng cách giữa các cá nhân; Thứ năm, sự thoải mái về vật chất nghĩa là có được các nguồn lực vật chất cho phép trẻ em và các bậc cha mẹ tham gia một cách đầy đủ vào các hoạt động của cộng đồng [32].
Tại Anh, Italia, Tây Ban Nha việc hỗ trợ cho học sinh khuyết tật, giáo viên dạy học hòa nhập và phụ huynh do Trung tâm nguồn giáo viên cấp vùng đảm nhận. Trẻ có nhu cầu hỗ trợ hòa nhập được các giáo viên có chuyên môn hướng dẫn và mỗi giáo viên có kế hoạch giáo dục cá nhân đối với mỗi trẻ khuyết tật, với các bài học hòa nhập: Dạy ngôn ngữ ký hiệu, dạy đọc và viết chữ nổi, dạy các kỹ năng sống.; Bên cạnh đó, phụ huynh còn được giáo viên hướng dẫn hỗ trợ học sinh ở nhà. Tại Thái Lan yêu cầu mỗi giáo viên cần xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho trẻ khuyết tật; Thái Lan quan tâm bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên các cấp về chuyên môn và trong một tuần, giáo viên trực tiếp tiến hành can thiệp sớm theo cách trẻ khuyết tật cùng phụ huynh. Mặt khác, GDHN ở Thái Lan chú trọng biên soạn các công cụ xác định mức độ phát triển của trẻ và các mẫu cho công tác quản lý; xây dựng các tài liệu dạy các kỹ năng đặc thù.
Ở Singapore, các nhà giáo, nhà sư phạm, nhà giáo dục học, cán bộ quản lý của các trung tâm, cơ sở giáo dục hòa nhập đóng vai trò quan trọng, là những người dẫn dắt HS khuyết tật hòa nhập với xã hội. Đối với việc hỗ trợ HS khuyết tật, GV dạy học hòa nhập và phụ huynh do Trung tâm nguồn GV cấp vùng Singapore đảm nhận, tại các trung tâm này, GV có trình độ chuyên môn được phân công hỗ trợ trẻ khuyết tật có nhu cầu hòa nhập. Tác giả đã đưa ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như: Phát huy tiềm năng của con người, xây dựng nhà trường tư duy, quốc gia học tập… [23]. Nghiên cứu của Katsunori, Toru Fukunaga, Hnako Iwwamoto về “Sự phối hợp giữa các ban ngành nhằm thúc đẩy giáo dục hòa nhập tại Nhật Bản - Kết quả điều tra bằng bảng hỏi”.
Trong kết quả nghiên cứu này, các tác giả đánh giá có rất ít GV phối hợp với các ban ngành trong quá trình giáo dục trẻ, vì vậy cần phải có sự phối hợp giữa các ban ngành, trước hết là người quản lý chuyên môn, Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đứng đầu là Hiệu trưởng, điều phối viên giáo dục đặc biệt và giáo viên chủ nhiệm [15]. Bên cạnh đó, còn có các dự án Việt - Bỉ (hỗ trợ học từ xa) dịch và giới thiệu như: “Đào tạo thường xuyên" của Pierre Besnard (Đại học Paris V-Sorbonne) và Bernard Lietard (Đại học Genève) với vấn đề người lớn tham gia đào tạo thường xuyên hay cuốn sách "Chiến lược của giáo viên" do Paul D.Eggen (Đại học Nord Florida) và Donald. Kauchak (Đại học Utah) đã phân tích chiến lược dạy học và các mô hình dạy học. Phlippe Meirieu trong “Dạy học theo nhóm” của đã nhấn mạnh tầm quan trọng của dạy học theo nhóm (NXB Chronique Sociale năm 1996); "Giáo viên rèn luyện tâm lý" của Jacques Nimier [11].
Kinh nghiệm phát triển năng lực đội ngũ giáo viên giáo dục đặc biệt của các nước phát triển cho thấy, cần đặt ra các yêu cầu về tiêu chuẩn của một giáo viên được xác định ở trình độ đào tạo, khả năng tiếp cận và đáp ứng với những đòi hỏi của thực tiễn vị trí công việc. Tại Mĩ, yêu cầu đối với một GV dạy TKT phải đảm bảo có trình độ tối thiểu là cử nhân giáo dục đặc biệt hoặc có trình độ đại học kèm chứng chỉ 6 tháng về giáo dục đặc biệt. Trước khi trở thành giáo viên dạy TKT, ứng cử viên phải có giấy phép hành nghề và đảm bảo các tiêu chuẩn đánh giá sát hạch nghề nghiệp. Một số bang của Mĩ yêu cầu người có trình độ cử nhân giáo dục đặc biệt phải có thêm chứng chỉ chuyên sâu về một dạng khuyết tật nào đó nếu chọn dạy một nhóm TKT.
Tại Úc, GV được đào tạo, bồi dưỡng để đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu công việc: (i) Cung cấp các chương trình phù hợp với mỗi trẻ và mỗi loại tật; (ii) Điều phối và quản lý các dịch vụ đảm bảo mọi trẻ được tiếp cận nguồn lực hỗ trợ cho sự phát triển; (iii) Chia sẻ kĩ năng và kiến thức trong giáo dục TKT; (iv) Chú ý đến thực hành và kĩ năng sâu hơn đối với giáo dục TKT. Còn tại Nhật, giáo viên và nhân viên giáo dục đặc biệt mầm non phải có năng lực chuyên sâu về: (i) Phát hiện sớm khuyết tật; (ii) Trị liệu y tế và giáo dục sớm; (iii) Bảo đảm các yêu cầu của một giáo viên như vai trò của giáo viên mầm non [30]. Như vậy các công trình nghiên cứu về giáo dục hòa nhập, học sinh khuyết tật đã nhấn mạnh đến vai trò giáo viên trong giáo dục hòa nhập, chú trọng năng Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lực, các yêu cầu về tiêu chuẩn của một giáo viên cũng như vấn đề bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên là rất cần thiết đối với giáo dục hòa nhập. Những nghiên cứu này là cơ sở lý luận và thực tiễn để tác giả triển khai nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của luận văn.
Những nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam, cũng như các nước khác trên thế giới tỉ lệ học sinh khuyết tật cũng chiếm tỉ lệ khá cao, nhất là đối với những vùng dân tộc thiểu số, vùng núi, vùng sâu, vùng xa. Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm và có những chủ trương, chính sách đúng đắn phát triển GDHN nhằm hỗ trợ giúp đỡ những trẻ khuyết tật, tạo điều kiện giúp các trẻ có cơ hội đến trường, hòa nhập với các học sinh trong cùng lứa tuổi. Hệ thống các văn bản pháp quy về GDHN ngày càng được bổ sung và hoàn thiện. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động GDHN, phát triển, bồi dưỡng năng lực GDHN… các nhà nghiên cứu, chuyên gia về giáo dục trẻ em có nhu cầu đặc biệt và Bộ GDĐT coi GDHN là con đường chủ yếu để giải quyết vấn đề trẻ có nhu cầu đặc biệt và tiến tới thực hiện giáo dục cho mọi người ở Việt Nam.
GDHN là một trong những phương thức GD trẻ khuyết tật có hiệu quả nhất được thực hiện ở nước ta từ năm 1991. Bên cạnh đó, khi nghiên cứu về hoạt động GDHN, nhiều nghiên cứu đã cho thấy có nhiều điểm hạn chế ở giáo viên như: thiếu năng lực chuyên môn, thiếu kiến thức hiểu biết về giáo dục hòa nhập, thiếu nguồn lực về tài chính, sự lo lắng của giáo viên, thái độ tiêu cực, sợ bị giảm đi các thành tích, hay do thiếu sự phát triển chuyên môn cho giáo viên, có ít hoặc không có các khóa học nhằm nâng cao mức độ chuyên nghiệp. Đánh giá về tình hình hoạt động giáo dục hòa nhập hiện nay, tác giả Hoàng Thị Hạnh - Viện Nghiên cứu Sư phạm của Trường ĐH Sư phạm Hà Nội 2 nhìn nhận: Một trong những khó khăn mà công tác giáo dục hòa nhập đang gặp phải ở nhiều quốc gia trên thế giới lại chính là vấn đề ở năng lực của đội ngũ giáo viên. Theo tác giả Đại Khải để nâng cao năng lực giáo dục hòa nhập cho đội ngũ giáo viên cần truyền thông, tổ chức tập huấn, tài liệu, có các buổi chia sẻ kinh nghiệm giữa các giáo viên, có các chính sách hỗ trợ của nhà nước cũng như của ban lãnh đạo nhà trường và đầu tư, bổ sung cơ sở vật chất.
Sự chuẩn bị của chính Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.