phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, trong luận văn này gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 2: Hành vi hỏi trực tiếp và gián tiếp trong truyện ngắn hiện thực phê phán Việt Nam. Chƣơng 3: Hành vi hỏi đƣợc dùng để thực hiện các hành vi nói trong truyện ngắn hiện thực phê phán Việt Nam. Một số lý thuyết về hành vi ngôn ngữ 1. Khái niệm hành vi ngôn ngữ Khi giao tiếp, con ngƣời có thể sử dụng rất nhiều phƣơng tiện khác nhau trong đó có ngôn ngữ.
Sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm gây ra hiệu quả, tác động nào đó đối với nhân vật giao tiếp chính là ngƣời nói đã dùng các hành vi ngôn ngữ. Nhà ngôn ngữ học ngƣời Anh – Austin đã đặt nền tảng cho lý thuyết hành vi ngôn ngữ. Theo ông khi chúng ta nói năng là chúng ta hành động, chúng ta thực hiện một hành động đặc biệt mà phƣơng tiện là ngôn ngữ để nói cho ngƣời nghe, tác động vào ngƣời nghe nhằm thực hiện mục đích nào đó và tƣơng ứng với nó là sự hƣởng ứng, cộng tác của ngƣời nghe. Điều kiện thực hiện các hành vi ở lời Hành vi ở lời cũng nhƣ các hành vi khác, muốn thực hiện đƣợc phải có những điều kiện nhất định.Searle đã dùng 12 tiêu chí khác nhau để làm tiêu chuẩn phân loại các hành vi ở lời, trong đó chú trọng 04 tiêu chí cơ bản: điều kiện nội dung mệnh đề; điều kiện chuẩn bị; điều kiện chân thành (điều kiện tâm lí) và điều kiện căn bản.
Điều kiện nội dung mệnh đề: Điều kiện nội dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung hành vi ở lời. Nội dung mệnh đề có thể là một mệnh đề đơn giản (đối với các hành vi khảo nghiệm, xác tín, miêu tả) hay hàm mệnh đề (đối với các câu hỏi khép kín, tức là câu hỏi chỉ có hai khả năng trả lời “có” hoặc “không”). Nội dung mệnh đề có thể là một hành động của ngƣời nói (hứa hẹn) hay một hành động của ngƣời nghe (lệnh, yêu cầu). Điều kiện chuẩn bị Điều kiện chuẩn bị bao gồm những hiểu biết của ngƣời phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của ngƣời nghe và về các quan hệ giữa ngƣời nói và ngƣời nghe [6, tr.
Điều kiện chân thành (điều kiện tâm lí): Điều kiện chân thành chỉ ra trạng thái tâm lí tƣơng ứng của ngƣời phát ngôn. Xác tín, khảo nghiệm đòi hỏi niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốn, hứa hẹn đòi hỏi ý định của ngƣời nói… [5, tr. Điều kiện căn bản: Theo Đỗ Hữu Châu [6, tr.117], điều kiện căn bản là điều kiện đƣa ra kiểu trách nhiệm mà ngƣời nói hoặc ngƣời nghe bị ràng buộc khi hành vi ở lời đó đƣợc phát ra. Trách nhiệm có thể rơi vào hành động sẽ đƣợc thực hiện (lệnh, hứa hẹn) hoặc đối với tính chân thực của nội dung (một lời xác tín buộc ngƣời nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra).
Phân loại các hành vi ngôn ngữ 1. Phân loại hành vi ngôn ngữ theo Searle Phân loại các hành vi trong lời của Austin. Năm 1977, trong bài “sự phân loại các hành vi tại lời” (có in lại trong Searle, 1982), Searle cho rằng Austin đã phân loại trên những tiêu chí chồng chéo và không rõ ràng nên đã có những yếu tố không tƣơng hợp đƣợc xếp trong một lớp, lại có những hành vi đƣợc xếp vào những lớp khác nhau [1, tr. Chẳng hạn hành động describe đƣợc Austin xếp vào hai lớp phán xét và bày tỏ.
Thuộc lớp phán xét vì đó là sự đánh giá, chính thức hoặc không. Thuộc lớp bày tỏ vì đó là sự trình bày một vấn đề gì đó. Nhƣng điều chủ yếu mà Searle không tán thành là Austin đã không thấy sự khác biệt giữa hành vi tại lời và vị từ thể hiện hành vi tại lời. Searle thấy rằng có nhiều nguyên lý khác nhau để phân loại hành vi tại lời cần dựa trên những nguyên lý rõ ràng và có liên kết với nhau.
Searle nêu ra 12 phƣơng diện mà các hành vi tại lời có thể khác nhau. Trong số này, e 8 ông chọn ra 3 tiêu chí cơ bản để phân loại các hành vi trong lời. - Đích tại lời (illocutionary point). Nếu chúng ta hỏi đích của một mệnh lệnh ban ra là gì thì câu trả lời đại loại sẽ là “để một ai đó làm một việc gì” hoặc “để một ai đó không làm một việc gì” hay “dừng một công việc gì lại”.
Đó là “đích tại lời”của một hành vi ra lệnh. Đích tại lời của một hành vi miêu tả là trình bày một sự tình nào đó ở thế giới bên ngoài. Đích trong lời của một hành vi trong lời là mục đích của hành vi đó. Đích tại lời của hành vi hứa là tự gắn trách nhiệm tinh thần về sự thực hiện việc gì.
Đó là điều kiện thiết yếu của hành vi hứa, đích tại lời không trùng với hành vi tại lời. Nó chỉ là một bộ phận của hiệu lực trong lời. Hai hành vi khác nhau có thể có cùng một đích trong lời nhƣng hiệu lực trong lời khác nhau. Chẳng hạn, hai hành vi ra lệnh và thỉnh cầu đều cùng một đích tại lời nhƣng hiệu lực trong lời thì khác nhau: ra lệnh thì bắt buộc ngƣời nghe thực hiện hành vi, còn thỉnh cầu thì kêu gọi thiện chí của ngƣời nghe.
- Hƣớng trùng khớp giữa lời nói với hiện thực (direction of fit). Sự trùng khớp giữa lời nói với hiện thực có thể xảy ra trong hai chiều từ hiện thực tới lời nói và từ lời nói tới hiện thực. Chiều từ lời nói tới hiện thực phản ánh các loại hành vi mà lời nói diễn ra trƣớc rồi hiện thực diễn ra sau đúng với lời. Ví dụ: “Tòa tuyên án, ông Nguyễn Văn A lãnh án năm năm tù giam”.
Thì sau lời tuyên án của Tòa, ông Nguyễn Văn A phải lãnh án năm năm tù giam. Các hành vi hứa, ra lệnh, yêu cầu… thuộc loại này. Chiều từ hiện thực tới lời nói phản ánh các loại hành vi mà thực tiễn ra trƣớc rồi lời nói mới diễn ra sau đúng với hiện thực. Ví dụ: “tôi đã sửa xe giúp ông ấy”, thì việc sửa đã đƣợc hiện thực trƣớc khi nói ra câu này.
Các hành vi trần thuật, miêu tả… thuộc loại này. Điều cần lƣu ý là có hai hành vi tại lời giống nhau về sự trùng khớp nhƣng khác nhau về đối tƣợng hành vi. Chẳng hạn: “hứa” và “sai”(cả hai đều đòi hỏi hiện thực diễn ra e 9 phù hợp với lời – tức là có hƣớng trùng khớp giữa lời nói tới hiện thực) nhƣng hƣớng hành vi vào ngƣời nói, còn “sai” lại hƣớng hành động vào ngƣời nghe. - Trạng thái tâm lí đƣợc thể hiện (expressed psychological stater).
Trạng thái tâm lí đƣợc thể hiện tƣơng ứng với điều kiện chân thành. Chẳng hạn, khi trần thuật, ngƣời nói phải tin tƣởng vào điều mình nói. Khi hứa, ngƣời nói có ý định thực hiện hành động nào đó. Khi thỉnh cầu, ngƣời nói mong muốn ngƣời nghe thực hiện một hành động nào đó.
- Nội dung mệnh đề: Tiêu chí này tƣơng ứng với điều kiện nội dung mệnh đề. Trên cơ sở những tiêu chí trên, J.Searle đã đƣa ra 05 phạm trù lớn của hành vi ở lời: hành vi biểu hiện (khảo nghiệm, miêu tả, thông tin); hành vi điều khiển (ra lệnh, yêu cầu, hỏi); hành vi cam kết (hứa, hẹn, thề); hành vi biểu cảm; hành vi tuyên bố. - Hành vi biểu hiện (xác tín): là hành vi nói trình bày những gì mà ngƣời nói tin là đúng hoặc không đúng. Theo Đỗ Hữu Châu [6, tr.126], “hành vi biểu hiện có đích ở lời là miêu tả lại một sự tình đang được nói đến.
Hướng khớp ghép là lời - hiện thực, trạng thái tâm lí là niềm tin vào điều mình xác tín, nội dung mệnh đề là một mệnh đề. Các mệnh đề này có thể đánh giá theo đúng tiêu chuẩn đúng – sai lôgic. Các hành vi như: giải thích, chứng minh, nhận xét, khẳng định, tường thuật, miêu tả, thông tin v.v… đều thuộc nhóm hành vi xác tín”. - Hành vi điều khiển là hành vi nói mà ngƣời nói dùng để làm cho ngƣời nghe làm một việc gì đó.
Theo Đỗ Hữu Châu [6, tr.126], “hành vi này có đích ở lời là đặt người nghe vào trách nhiệm thực hiện một hành vi tương lai. Hướng khớp ghép là hiện thực - lời, trạng thái tâm lí là sự mong muốn của Sp1, nội dung mệnh đề là hành vi tương lai của Sp2”. Các hành vi nhƣ: yêu cầu, khuyên, mệnh lệnh, thách thức, đề nghị, cho e 10 phép.v đều thuộc nhóm hành vi điều khiển. Hành vi hỏi là dạng đặc biệt cũng thuộc nhóm hành vi điều khiển này.
- Hành vi cam kết: là hành vi nói mà ngƣời nói dùng để ràng buộc chính mình vào việc thực hiện một việc nào đó trong tƣơng lai. Theo Đỗ Hữu Châu [6, tr.126], “hành vi này có đích ở lời là trách nhiệm phải thực hiện hành vi tương lai mà Sp1 bị ràng buộc. Hướng khớp ghép là hiện thực - lời, trạng thái tâm lí là ý định của Sp1, nội dung mệnh đề là hành vi tương lai của Sp1. Các hành vi như: hứa hẹn, thề, cam đoan, cho, biếu, tặng v.v… thuộc nhóm hành vi cam kết”.
- Hành vi biểu cảm (bộc lộ): Là hành vi nói trình bày trạng thái tâm lí của ngƣời nói do cảm nhận đƣợc sự vật nào đó. Theo Đỗ Hữu Châu [6, tr.126], “hành vi này có đích ở lời là bày tỏ trạng thái tâm lí phù hợp với hành vi ở lời, trạng thái tâm lí thay đổi tùy theo từng loại hành vi, nội dung mệnh đề là một hành vi hay một tính chất nào đó của người nói hay người nghe”. Các hành vi nhƣ: khen, chê, trách, mắng, than, xin lỗi, chúc mừng, tán thƣởng, cảm ơn, mong muốn v.v… thuộc nhóm hành vi biểu cảm. - Hành vi tuyên bố: Là hành vi nói làm thay đổi thế giới thông qua từ ngữ trong nội dung mệnh đề.
Hành vi tuyên bố đòi hỏi những điều kiện thuộc về thiết chế, cụ thể là ngƣời nói phải có cƣơng vị chuyên biệt do thiết chế quy định và ngữ cảnh riêng biệt thuộc thiết chế để làm cơ sở cho một sự tuyên bố thích hợp. Đích ở lời là nhằm làm cho có tác dụng nội dung của hành vi. Hƣớng khớp ghép là lời - hiện thực và là hiện thực - lời, nội dung mệnh đề là một mệnh đề. Các nhóm hành vi nhƣ: tuyên bố, kết tội, từ chức, khai trừ v.v… đều thuộc nhóm hành vi tuyên bố.
Sự phân loại trên có thể đƣợc tổng hợp qua bảng sau: e 11 Bảng 1.