mở đầu cho phong trào “Đồng Khởi” ở Nam Trung Bộ nói riêng, miền Nam nói chung. Trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954 - 1975), Vĩnh Thạnh là căn cứ địa của tỉnh Bình Định, nơi đây từng diễn ra những trận đọ sức quyết liệt của quân dân tỉnh Bình Định và bộ đội chính quy với một số đơn vị thiện chiến của đội quân viễn chinh xâm lược Mỹ và quân các nước đồng minh của Mỹ (Sư đoàn kỵ binh bay số 1 Mỹ, Sư đoàn 4 bộ binh Mỹ, các Lữ đoàn dù 101 và Thiết giáp 173 Mỹ, Sư đoàn Mãnh Hổ Nam Triều Tiên). Huyện Vĩnh Thạnh luôn là một địa bàn chiến lược, vùng có tầm quan trọng cả về chính trị, kinh tế và quốc phòng đối với tỉnh Bình Định nói riêng và cả nước nói chung. Giáo dục huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định (1945 - 1960) 1.
Giai đoạn 1945 - 1954 Trong thời thực dân phong kiến, ở hai huyện An Lão và Vân Canh vẫn có một số người trong đồng bào dân tộc ít người đi học các trường sơ học và tiểu học của Pháp, nhưng Vĩnh Thạnh thì chưa có; kể cả các làng người Kinh như Cây Dừa, Định Quang, Định Bình cũng không tìm thấy tên tuổi những người đỗ đạt thời xưa. Đây là hậu quả chính sách ngu dân của thực dân Pháp làm cho hơn 95% người Kinh và 100% đồng bào ở Vĩnh Thạnh mù chữ. 15 Cho đến những năm 1930 của thế kỉ XX, tại làng Cây Dừa, thực dân Pháp lập một trường sơ học Pháp - Việt có đủ 3 lớp (lớp năm, lớp bốn và lớp ba - tương đương với lớp 1, 2 và 3 hiện nay). Đó là trường học của cả tổng Vĩnh Thạnh, bao gồm các xã: Vĩnh Thịnh, Vĩnh Quang, Vĩnh Hiệp, Tây Giang, Bình Giang và Bình Tường ngày nay.
Nhân dân các dân tộc ở Vĩnh Thạnh chìm đắm trong mê tin dị đoan, trong các tập tục phản khoa học. Tình trạng lạc hậu về kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục và ách áp bức bóc lột tàn bạo của thực dân, phong kiến không những làm cho đồng bào các dân tộc ở Vĩnh Thạnh ngày càng bần cùng, mà còn phá hoại và kìm hãm năng nề sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân các dân tộc địa phương. Năm 1945 Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Nhân dân ta trở thành người dân của một nước độc lập, tự do.
Tuy nhiên, tình hình đất nước sau Cách mạng Tháng Tám gặp muôn vàng khó khăn, trong đó có nhiệm vụ rất cấp bách đó là giải quyết nạn mù chữ. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi việc xóa nạn mù chữ là nhiệm vụ cấp bách cần phải giải quyết. Hồ Chí Minh cho rằng: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu, sự dốt nát là một loại giặc nội xâm, là mẹ đẻ của mọi thói hư tật xấu, phản lại văn hóa” [27; tr. Người đề nghị mở ngay một chiến dịch diệt dốt và đích thân phát động chiến dịch “Chống nạn mù chữ”, coi đó là bước đột phá đầu tiên để nâng cao dân trí.
Ngày 8/9/1945, Nhà nước Việt Nam liên tiếp ban hành 3 sắc lệnh để cụ thể hóa chính sách diệt dốt: Sắc lệnh số 17: Sắc lệnh thành lập Nha Bình dân học vụ; Sắc lệnh số 19: Sắc lệnh mở các lớp bình dân cho nông dân và thợ thuyền buổi tối; Sắc lệnh số 20: Sắc lệnh học chữ Quốc ngữ bắt buộc và không mất tiền cho tất cả mọi người, hạn một năm toàn dân từ 8 tuổi trở lên phải biết đọc, biết viết chữ Quốc ngữ. Ngày 10/10/1945, Hồ Chí Minh ra Sắc lệnh số 14/SL lập Hội đồng cố vấn học chính để giúp Chính phủ chỉ đạo sắp xếp lại bộ máy học sinh các cấp và 16 các trường theo đúng tinh thần mới. Ngày 25/11/1945, Ban Chấp hành Trung ương Đảng ra Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc, trong đó vạch rõ nhiệm vụ của giáo dục là: “Mở đại học và trung học, cải cách việc học theo tinh thần mới, bài trừ cách học nhồi sọ”. Ngày 9/7/1946, Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 119/SL, thành lập Bộ Quốc gia giáo dục.
Ngày 10/8/1946, Hồ Chí Minh ban hành tiếp các Sắc lệnh số 146/SL và Sắc lệnh số 147/SL nêu rõ nguyên tắc, cơ cấu tổ chức và những điều khoản pháp chế của nền giáo dục mới: “Học không phải trả tiền các môn học dạy bằng tiếng Việt và từ năm 1950 trở đi tất cả trẻ em từ 9 đến 13 tuổi đều có thể vào trường học” [13; tr. Sắc lệnh 146/SL, quy định ba nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới là: “Đại chúng hóa, dân tộc hóa và khoa học hóa và tôn chỉ phụng sự lý tưởng quốc gia và dân tộc” [18; tr. Đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ của cuộc kháng chiến, trong giai đoạn này Đảng và Chính phủ chủ trương chuyển hướng giáo dục cho phù hợp với công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Nghị quyết của Hội nghị Trung ương Đảng (4/1947), nêu rõ: “Chú trọng mở mang giáo dục kháng chiến (mở trường chuyên môn về nghề nghiệp, chính trị, quân sự…xúc tiến bình dân học vụ” [88; tr.
Giáo dục phải trực tiếp tham gia phục vụ kháng chiến, chương trình học phải thiết thực, học sinh vừa học vừa lao động sản xuất, mở thêm trường học ở các vùng dân tộc thiểu số,…Mục tiêu giáo dục là đào tạo người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người cán bộ tốt. Phương châm giáo dục là lý luận phải gắn liền với thực tế, học phải đi đôi với hành… Những chủ trương, quan điểm, phương châm, sắc lệnh và việc làm nói trên, nhất là ba nguyên tắc của nền giáo dục do Đảng, Nhà nước và Hồ Chí Minh xác định đã trực tiếp xóa bỏ tính chất phong kiến, thực dân của nền giáo dục cũ. Đồng thời, đặt nền móng cho sự ra đời của nền giáo dục Việt Nam mới. Nền giáo dục đó, theo Hồ Chí Minh: “Một nền giáo dục của một nước độc lập, 17 một nền giáo dục sẽ đào tạo các em thành những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn năng lực sẵn có của các em” [46; tr.
Trên cơ sở đường lối lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Định nói chung, huyện Vĩnh Thạnh nói riêng kêu gọi các cấp, các ngành phát động phong trào tiêu thổ kháng chiến và thi đua diệt giặc dốt. Thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, tỉnh Bình Định đề ra phương châm hành động: “Nơi nào mở được lớp học thì mở, người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, không kể già trẻ, trai, gái, hễ chưa biết chữ đều phải đi học, không giấy thì dùng lá chuối, bảng đen, không bút, mực thì dùng than, phấn, kiểm tra gắt gao, khen chê đúng mực để thúc đẩy việc dạy và học” [93; tr. Bộ máy quản lý giáo dục tỉnh Bình Định lúc này được cơ cấu thành 2 bộ phận: Bình dân học vụ và Tiểu học vụ. Bộ phận Bình dân học vụ được phân chia làmba cấp (tỉnh, huyện, xã).
Ở tỉnh gọi là Ty Bình dân học vụ, còn ở huyện, xã thì gọi là Ban Bình dân học vụ. Ty Bình dân học vụ tỉnh Bình Định có đội tuyên truyền lưu động, lần lượt đi khắp các xã trong tỉnh vừa biểu diễn văn nghệ cổ động phong trào xóa mù, vừa tập huấn cho người làm công tác xóa mù. Bộ phận Tiểu học vụ được tổ chức làm hai cấp. Cấp tỉnh gọi là Ty Tiểu học vụ, còn cấp dưới là các trường tiểu học.
Triển khai chủ trương, nhiệm vụ, kế hoạch xóa nạn mù chữ, phát triển Bình dân học vụ của Nha Bình dân học vụ, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Vĩnh Thạnh quyết tâm thanh toán nạn mù chữ, coi đó là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm. Với khẩu hiệu tuyên truyền, cổ động thiết thực như: “Đi học bình dân học vụ là yêu nước”, “Ði dạy bình dân học vụ là yêu nước”, “Giúp đỡ bình dân học vụ là yêu nước”, “Diệt giặc dốt”,…đã động viên, khích lệ tinh thần học tập của mỗi người dân. Chính quyền và nhân dân huyện Vĩnh Thạnh 18 tích cực chỉ đạo, góp công, góp sức tổ chức nhiều lớp học bình dân học vụ để xóa nạn mù chữ. Tuy nhiên, thực hiện xóa nạn mù chữ cho nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi là nhiệm vụ vô cùng khó khăn, vì đồng bào có tiếng nói riêng của dân tộc mình, tỷ lệ mù chữ rất cao so với người kinh.
Mặc khác, đối với đồng bào các dân tộc, học chữ quốc ngữ là hoàn toàn xa lạ, mới mẻ; hơn nữa ở vùng núi dân cư sống không tập trung, giao thông đi lại cách trở, đường xa, những khó khăn đó đã tác động đến việc học tập xóa mù chữ của miền núi. Được sự giúp đỡ của tỉnh, sự tận tình cố gắng của giáo viên người kinh, bà con dần hiểu sự cần thiết phải học văn hóa và tự giác đến lớp học, ngày càng tin yêu cán bộ “Bác Hồ” đã đem cái chữ và ánh sáng văn hóa đến với bản làng. Ở một số làng vùng cao, điều kiện đi lại khó khăn, mặc dù sự cố gắng của giáo viên, sự vận động của chính quyền và các đoàn thể, nhưng cũng chỉ đạt được 20% số người thuộc diện đi học đến lớp học đọc, học viết, ở làng người kinh tỷ lệ cao hơn. Đến năm 1950, phong trào bình dân học vụ tiếp tục được duy trì, toàn huyện mở 10 lớp tại xã với 17 giáo viên1, có 120 học viên tham gia các lớp xóa mù; tại huyện mở 1 lớp sơ cấp bình dân có 15 cán bộ người Thượng ở huyện, xã tham gia để nâng cao trình độ văn hóa [9; tr.
Trong thời gian đầu chưa có trường phổ thông nên tất cả già, trẻ, trai, gái đều tham gia học bổ túc văn hóa. Mỗi làng đều tổ chức các lớp xóa mù chữ và bổ túc văn hóa. Ngoài ra, nhờ sự giúp đỡ của tỉnh, huyện Vĩnh Thạnh thành lập trường đào tạo cán bộ nhằm đào tạo cấp tốc cho số cán bộ người dân tộc. Đến năm 1952, các xã vùng thấp đều có lớp bình dân học vụ, đào tạo được một số giáo viên người dân tộc thay cho người kinh, nhân dân đi học đông, hai huyện 1 Cùng thời gian này huyện An Lão có 6 lớp, huyện Vân Canh có 12 lớp.
Số người còn mù chữ của huyện Vân Canh là 3.737 người, huyện Vĩnh Thạnh là 4.516 người vàhuyện An Lão là 4.009 người, tỷ lệ người biết chữ của 3 huyện miền núi là 1/100 dân [7; tr.