Phần mở đầu 1. Lí do chọn đề tài 2. Lịch sử nghiên cứu đề tài 3. Mục đích nghiên cứu 4.
Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 5. Giả thiết khoa học 6. Nhiệm vụ nghiên cứu 7. Phạm vi, đối tƣợng nghiên cứu 8.
Phƣơng pháp nghiên cứu 9. Kết cấu của đề tài B. Phần nội dung 12 Chƣơng I: Cơ sở lí luận của việc rèn luyện kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 4, 5. Chƣơng II: Thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng sống thông qua HĐNGLL cho học sinh lớp 4, 5, trƣờng tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, thành phố Đà Nẵng.
Chƣơng III: Biện pháp nâng cao hiệu quả của việc rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5 thông qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Phần kết luận D. Tài liệu tham khảo E.NỘI DUNG Chƣơng I: Cơ sở lí luận của việc giáo dục kĩ năng sống thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh lớp 4, 5 1. Một số vấn đề chung về Kĩ năng sống 1.
Một số khái niệm 1. Kĩ năng Kĩ năng là một vấn đề phức tạp và có nhiều quan điểm khác nhau, về vấn đề này có những ý kiến sau đây: Theo L.Lêvitôv nhà tâm lý học Liên Xô cho rằng: Kĩ năng là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay một hoạt động phức tạp hơn bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn, có tính đến những điều kiện nhất định. Theo ông, ngƣời có kĩ năng hành động là ngƣời phải nắm đƣợc và vận dụng đƣợc đúng đắn các cách thức hành động nhằm thực hiện hành động có kết quả. Ông còn nói thêm, con ngƣời có kĩ năng không chỉ nắm lý thuyết về hành động mà phải vận dụng đƣợc lý thuyết đó vào thực tế.Pêtrôpxki: Kĩ năng là sự vận dụng tri thức đã có thể lựa chọn và thực hiện nhƣng phƣơng thức hành động tƣơng ứng với mục đích đặt ra.
Theo quan điểm của P.Ruđic: Kĩ năng là động tác mà cơ sở của nó là sự vận dụng thực tế các kiến thức đã tiếp thu đƣợc để đạt kết quả trong một hình thức vận động cụ thể. Theo quan điểm của K.Platônôp: Kĩ năng là khả năng của con ngƣời thực hiện một hoạt động bất kì nào đó hay các hành động trên cơ sở của kinh nghiệm cũ. Theo tác giả Vũ Dũng thì: “Kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả tri thức về phƣơng thức hành động đã đƣợc chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tƣơng ứng”.TSKH Thái Duy Tuyên, kĩ năng là sự ứng dụng kiến thức trong hoạt động. Mỗi kĩ năng bao gồm một hệ thống thao tác trí tuệ và thực hành, thực hiện trọn vẹn hệ thống thao tác này sẽ đảm bảo đạt đƣợc mục đích đặt ra cho hoạt động.
Nguyễn Quang Uẩn và Nguyễn Ánh Tuyết cho rằng: Kĩ năng là năng lực của con ngƣời biết vận dụng các thao tác của một hành động theo quy trình. Từ khái niệm trên cho thấy rằng: Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng. Tri thức ở đây bao gồm tri thức về cách thức hành động và tri thức về đối tƣợng hành động, Kĩ năng là sự chuyển hóa tri thức thành năng lực hành động của cá nhân. Kĩ năng luôn gắn với một hành động hoặc một hoạt động nhất định nhằm đạt đƣợc mục đích đã đặt ra.
Từ sự phân tích trên ta có thể hiểu kĩ năng một cách chung nhất: Kĩ năng là năng lực thực hiện một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, các thức hành động đúng đắn để đạt được mục đích đề ra. Kĩ năng sống Trong những năm gần đây, thuật ngữ KNS xuất hiện ngày càng nhiều ở mọi nơi trên thế giới. Hiện nay, có khá nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về KNS. Mỗi định nghĩa lại thể hiện những cách thức tiếp cận khác nhau.
Theo từ điển Wikipedia, KNS là tập hợp các kĩ năng của con ngƣời có đƣợc qua việc học hoặc việc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống, dùng để giải quyết những vấn đề mà con ngƣời thƣờng đối mặt trong cuộc sống hàng ngày. Theo tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO), KNS là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày, những kĩ năng đó gắn với 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết, học để làm, học để làm ngƣời, học để chung sống. Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa KNS là "khả năng thích nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Trong giáo dục tiểu học và giáo dục trung học, KNS có thể là một tập hợp những khả năng đƣợc rèn luyện và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa.
Theo UNICEF, KNS là tập hợp rất nhiều kĩ năng tâm lý xã hội và giao tiếp cá nhân giúp cho con ngƣời đƣa ra những quyết định có cơ sở, giao tiếp một cách có hiệu quả, phát triển các kĩ năng tự xử lý và quản lý bản thân nhằm giúp họ có một cuộc sống lành mạnh và hiệu quả. KNS vừa mang tính cá nhân vừa mang tính xã hội. Nó cần thiết đối với học sinh để các em có thể ứng phó một cách tự tin, chủ động, tích cực và hợp lí trong các tình huống của cuộc sống cũng nhƣ trong mối quan hệ; từ đó đem lại cho các em một cuộc sống vui vẻ, thoải mái, hài hòa. Nhƣ vậy, bản chất của KNS là kĩ năng tự quản lí bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả.
Hay nói cách khác: KNS là các kĩ năng tâm lí xã hội, là khả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống. Quá trình hình thành kĩ năng sống 1. Cơ sở hình thành Để giải thích nguồn gốc hình thành kĩ năng, có lẽ không có cơ sở lý thuyết nào tốt hơn 2 lý thuyết về: Phản xạ có điều kiện và phản xạ không điều kiện. Trong đó, kĩ năng của cá nhân gần nhƣ thuộc về cái gọi là phản xạ có điều kiện.
Nghĩa là, KNS chỉ đƣợc hình thành chủ yếu thông qua giáo dục, đào tạo và giáo dục. Trong đó, các kĩ năng có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ lẫn nhau. Các giai đoạn hình thành Bất cứ một kĩ năng nào đƣợc hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập, tính phức tạp của chính kĩ năng đó. Dù hình thành nhanh hay chậm thì kĩ năng cũng đều trải qua những giai đoạn sau đây: 15 Hình thành mục đích.
Lên kế hoạch để có kĩ năng đó. Cập nhật kiến thức lý thuyết liên quan đến kĩ năng đó. Luyện tập kĩ năng. Ứng dụng và hiệu chỉnh.
KNS thúc đẩy sự phát triển cá nhân, cộng đồng, nâng cao chất lƣợng cuộc sống và giúp cho con ngƣời xây dựng một xã hội có văn hóa. Phân loại kĩ năng sống Kĩ năng sống đƣợc chia thành hai loại: Kĩ năng cơ bản và kĩ năng nâng cao. Kĩ năng cơ bản Các kĩ năng cơ bản bao gồm: Kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, múa, hát, đi, đứng, chạy, nhảy… 1. Kĩ năng nâng cao Kĩ năng nâng cao là sự kế thừa và phát triển các kĩ năng cơ bản dƣới một dạng mới hơn.
Theo UNESCO và UNICEF kĩ năng nâng cao bao gồm 9 kĩ năng sau: Giải quyết vấn đề Suy nghĩ, tƣ duy phân tích có phê phán Giao tiếp hiệu quả (Ra) quyết định Tƣ duy sáng tạo Giao tiếp ứng xử cá nhân Nhận thức, tự trọng, tự tin Thể hiện sự cảm thông Ứng phó với căng thẳng cảm xúc. Theo giáo dục Việt Nam lại chia kĩ năng sống thành ba nhóm sau: Các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình: tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hộ trợ, tự tin, tự trọng… Các kĩ năng nhận biết và sống với ngƣời khác: giao tiếp, giải quyết mâu thuẫn, thƣơng lƣợng, từ chối, bày tỏ cảm thông, hợp tác. Các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả: tƣ duy phán đoán, sáng tạo, giải quyết vấn đề, ra quyết định. Tuy nhiên, mọi sự phân chia chỉ mang tính tƣơng đối.
Đối với các lớp đầu cấp tiểu học, kĩ năng cơ bản đƣợc xem trọng, còn các lớp cuối cấp nâng dần cho các em về kĩ năng nâng cao. Theo đó, chúng ta cần tập trung rèn luyện cho các em 2 nhóm kĩ năng sống sau đây: Nhóm kĩ năng giao tiếp – hòa nhập cuộc sống. Nhóm kĩ năng trong học tập, lao động – vui chơi giải trí. Một số vấn đề về hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở tiểu học 1.
Một số khái niệm 16 1. Hoạt động Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động: Theo sinh lí học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lƣợng, thần kinh và cơ bắp của con ngƣời tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Theo tâm lí học duy vật biện chứng: Hoạt động là phƣơng thức tồn tại của con ngƣời, là sự tác động một cách tích cực giữa con ngƣời với hiện thực khách quan, thiết lập mối quan hệ giữa con ngƣời với thế giới khách quan nhằm tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con ngƣời. Theo tâm lý học Mácxit: Cuộc sống con ngƣời là một dòng hoạt động, con ngƣời là chủ thể của các hoạt động thay thế nhau.
Hoạt động là quá trình con ngƣời thực hiện các quan hệ giữa con ngƣời với thế giới tự nhiên, xã hội. Đó là quá trình chuyển hóa năng lực lao động và các phẩm chất tâm lý khác của bản thân thành sự vật, thành thực tế và quá trình ngƣợc lại là quá trình tách những thuộc tính của sự vật, của thực tế quay trở về với chủ thể, biến thành vốn liếng tinh thần của chủ thể. Chúng ta có thể hiểu hoạt động là quá trình tác động qua lại giữa con ngƣời với thế giới xung quanh để tạo ra sản phẩm về phía thế giới và cả sản phẩm về phía con ngƣời.