CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VIEC BOI DUONG NANG LUC TỰ HỌC VẬT LÝ CHO HỌC SINH VỚI SỰ HỖ TRỢ CỦA MÁY VI TÍNH 1. Khái niệm năng lực Hiện nay có nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực. Trong từ điển Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân, năng lực được cho là "khá năng đảm nhận công việc và thực hiện tốt công việc đó nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn [ 12]. ‘Theo quan niệm của chương trình giáo dục phổ thông của Quebec (Canada) thì “Năng lực là sự kết hợp một cách lĩnh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tinh cảm, giá trị, động cơ cá nhân.
nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [6]. Với cách hiểu này thì việc. HS chỉ có kiến thức, kĩ năng và thái độ không được xem như là có năng lực mà cả ba yếu tố này phải được người học vận dụng trong một tình huống nhất định thì mới phát triển thành năng lực. “Theo tâm lí học, năng lực là những thuộc tính tâm lí riêng của mỗi cá nhân, nhờ những thuộc tính này mà con người có thể hoàn thành một loại hoạt động nào đó với thành công cao.
Người có năng lực về một mặt nào dé thi không phải nỗ lực nhiều trong quá trình công tác mà vẫn khắc phục được những khó khăn nhanh chóng và dễ dàng hơn những người khác hoặc có thể vượt qua được những khó khăn mới mà nhiễu người khác không vượt qua được. ‘Weinert (2001) định nghĩa: “ lạ lực là những khả năng và kỹ xảo học được hoặc sẵn có của cả thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵm sàng về động cơ, xã hội và khá năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” “Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong n bồi cảnh cụ thể. “Năng lực là các kĩ năng và khả năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học. đễ giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
Năng lực cũng hàm chứa trong, nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng. thành công và có trách nhiệm các giải pháp. trong những tình huống thay. Có thể nhận thấy điểm chung cốt lõi của các cách hiểu trên về khái em “năng lực” chính là khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng và thái độ để ¡quyết một tình huống có thực trong cuộc sống.
Năng lực chính là khả năng vận dụng kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức. các kiến thức, kĩ năng và thái độ để thực hiện tốt các nhiệm vụ học tập, giải quyết có hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bồi cảnh nhất định. Việc hình thành và phat năng lực cần cho việc học suốt đời, gắn với cuộc sống hằng ngày của HS trung học phổ thông. Vì vị , chương trình sau năm.
2015 tập trung vào phát triển 7 loại năng lực chung, cốt lõi gồm: = Nang lực tư duy. ~ Năng lực tự học = Nang lực hợp tác. = Nang lực tự đánh giá; tự chủ, tự quản lý và phát triển bản thân. ~ Năng lực giao tiếp.
~ Năng lực tìm kiếm, xử lý thông tí. ~ Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề. Tôm lại, năng lực là khá năng đảm nhận công việc và thực hiện tắt công việc được giao, có khả năng sử dụng kiấn thúc, vên dạng kĩ năng và thôi độ dé git quất vấn đề một cách hiệu quả và có phẩm chất đạo đức. Đặc điểm của năng lực Nang lực hoạt động của một con người là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở lỗi cá nhân được hình thành trong quá trình sống và giáo.
dục của mỗi người. Năng lực còn được hiểu theo cách khác, năng lực và tính tâm sinh lý của con người chỉ phối quá trình tiếp thu kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo tối thiểu là cái mà người đó có thể dùng trong sinh hoạt. Năng lực là khái niệm trừu tượng trong tâm lí học. Tuy còn có những cách hiểu và diễn đạt khác nhau, song vẺ_ cơ bản các nhà tâm lí học đều thống nhất rằng, năng lực có hai đặc điểm cơ bản [7] Thứ nhất: Năng lực thể hiện đặc thù tâm lí, sinh lí khác biệt của cá nhân, chịu ảnh hưởng của yếu tố bẩm sinh di truyền về mặt sinh học.
Yếu tố duy truyền tạo ra những điều kiện ban đầu để con người có thể hoạt động có kết quả trong lĩnh vực nhất định. Tuy nhiên, ố này không quy định những giới hạn tiến bộ của năng lực mà chỉ tạo nên tiền để của sự phát triển năng. Yếu tổ này được phát triển hay hạn chế phụ thuộc vào môi trường hoạt động, khác nhau Thứ hai: Năng lực được hình thành, phát triển và được thể hiện thông qua. các hoạt động cụ thể.
'Khi nói đến năng lực là nói đến năng lực trong một hoạt động cụ thể của con người. Năng lực không có sẵn trong con người mà bằng hoạt động và thông qua hoạt động con người tự chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng của thể hệ đi trước biến thành năng lực của chính mình. Thực tế nhiều nhà khoa học cũng đã chứng minh rằng “thiên tải, chín mươi chín phần trăm là do lao động, chỉ có một phân trăm là do bẩm sinh”. Như vậy, hoạt động của chủ thể có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành và phát triển năng lực, 1.
Nang lực tự học 1. Khái niệm năng lực tự học Hoạt động tự học muốn diễn ra thực sự thì yêu cầu cần thiết là phải hình thành và phát triển. ở người học NLTH. Chỉ khi đã có được NILTH.
trong bản thân mình, người học mới tự mình tiễn hành việc học tập một cách tự chủ, độc lập, sáng tạo như đòi hỏi của giáo dục đảo tạo ngày nay. ‘Theo Lê Công Triêm, năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tồi, nhận thức và vn dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. lực tự học của người học bao gồm các nhóm sau [9], [II] ~ Nhóm năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đê Năng lực này đòi hỏi người học phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh sự vật hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc đô, có hệ thống trên cơ. sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung, các bế tắc, nghịch lí cần phải khơi thông, khám phá, làm sáng rõ.
Đây là bước khởi đầu của sự nhận. thức có tính phê phán, đồi hỏi nỗ lực trí tuệ cao. Việc thường xuyên rèn luyện năng, lực này tạo cho sinh viên thói quen hoạt động trí tuệ, luôn luôn tích cực khám phá, tìm tòi ở mọi nơi, mọi lúc, mọi trường hợp và với nhiều đối tượng khác nhau. ~ Nhỏm năng lực giải quyết vin dé Năng lực giải quyết vấn đề bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, tiếp nhận và xử lí thông tin; đề xuất các giải phé „ kiến nghị các kết luận.
Kinh nghiệm thực tế cho thấy nhiều HS thu thập được một lượng thông tin phong phú nhưng không biết hệ thống và xử lí như thế nào để làm “loé” ra con đường tiệm cận giả thiết. Điều này đòi hỏi sự hướng dẫn cẩn thận và kiên trì của các GV trong việc dạy. cho HS kĩ thuật giải quyết vấn dé. Với kĩ thuật này, HS có thể áp dụng vào rất nhiều.
trường hợp trong học tập cũng như trong cuộc sống để lĩnh hội các trí thức cẳn thiết cho mình. Nên xem kĩ thuật giải quyết vấn đề vừa là công cụ nhận thức đồng thời là. mục tiêu của việc dạy cho người học phương pháp tự học. - Nhóm năng lực xác định những kết luận đúng (kiễn thức, cách thúc, con đường, giải pháp, biện pháp.) từ quá trình giải quyết vấn đề.
'Đây là một năng lực quan trọng cần cho người học đạt đến những kết luận đúng của quá trình giải quyết vấn đề, hay nói cách khác, các tri thức cần lĩnh hội sau khi giải quyết vấn đề sẽ có được một khi chính bản thân người học có năng lực. Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết qua vadé xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết). ~ Nhóm năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiển (hoặc vào nhận thức kiến thức mới) Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thể hiện ở chính ngay trong. thực tiễn cuộc sống, hoặc là người học vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám.
phá, thu nhận thêm kiến thức mới. Điều đó đòi hỏi người học phải có năng lực vận dụng kiến thức. ~ Nhóm năng lực đánh giá và tự đánh giá “Trong day học tập trung vào người học đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích người học đánh giá và tự đánh giá. Có như vậy thì người học mới đám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sing tạo, tìm ra cái mới, cái hợp lí, cái hiệu quả hơn.
Năng lực đánh giá và tự đánh giá giúp người học xác. định chính xác điểm mạnh, yếu, cái đúng, sai của mình từ đó có thể chủ đông phát huy những mặt mạnh, điều chỉnh những điểm yếu, vững bước trên con đường học tập của mình Các nhóm năng lực trên vừa đan xen, vừa tiếp nối nhau, tạo nên năng lực tự. học ở người học. Việc hình thành, bồi dưỡng các năng lực tự học cho người học là một quá trình lâu đài và được thực hiện từng bước theo mức độ từ thắp lên cao, tir đơn giản đến phức tạp.
Nang lục tự học, tự nghiên cứu tạo cho người học một sự sẵn sảng về tâm lí tiếp nhân. Người học định hướng được nhu cẳu học tập của mình; ý thức được yếu cầu của xã hội, cộng đồng đối với việc học tập. Người học sẽ phần đầu thoä mãn. nhu cầu nhận thức bằng thái độ nghiêm túc học tập [ 14].