Luận văn thạc sĩ giáo dục học biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông huyện bắc trà my và nam trà my tỉnh quảng nam

Biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT huyện Bắc Trà My và Nam Trà My, Quảng Nam. Luận văn thạc sĩ giáo dục học.

Trường đại học

Đại Học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Quản Lý Giáo Dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Giáo Dục Học

2014

138
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT

Trong bối cảnh hội nhập và phát triển, công tác hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông (THPT) giữ một vai trò chiến lược, đặc biệt tại các huyện miền núi như Bắc Trà My và Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thanh Tú (2014) đã chỉ rõ, giáo dục hướng nghiệp (GDHN) không chỉ là một bộ phận của giáo dục toàn diện mà còn là công cụ đắc lực để thực hiện phân luồng học sinh sau THPT, góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại địa phương. Văn kiện Đại hội Đảng X và XI đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đổi mới giáo dục nhằm xây dựng cơ cấu nguồn nhân lực địa phương hợp lý. Do đó, việc nghiên cứu và áp dụng các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp hiệu quả là nhiệm vụ cấp thiết. Mục tiêu của quản lý GDHN là tạo ra một hệ thống các tác động có kế hoạch, định hướng từ chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý, nhằm giúp học sinh định hướng nghề nghiệp phù hợp với năng lực cá nhân và nhu cầu của thị trường lao động Quảng Nam. Quá trình này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các yếu tố: chủ thể quản lý (Ban giám hiệu), đối tượng quản lý (giáo viên, học sinh), công cụ quản lý (cơ chế, chính sách) và phương pháp quản lý (tác động bằng kinh tế, tư tưởng). Một mô hình quản lý giáo dục hướng nghiệp hiệu quả phải dựa trên cơ sở lý luận vững chắc và thực tiễn đặc thù của vùng miền, nhất là đối với học sinh dân tộc thiểu số.

1.1. Vai trò của công tác hướng nghiệp trong giáo dục phổ thông

Luật Giáo dục khẳng định công tác hướng nghiệp giúp học sinh hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết cơ bản về kỹ thuật, từ đó phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển. Chỉ thị số 33/2003/CT-BGD&ĐT nêu rõ GDHN là một bộ phận không thể thiếu, góp phần tích cực vào việc phân luồng học sinh sau THCS và THPT. Hoạt động này không chỉ cung cấp kiến thức mà còn rèn luyện thái độ lao động đúng đắn, giúp học sinh làm quen với các nghề phổ biến và lựa chọn con đường sự nghiệp phù hợp nhất. Một công tác hướng nghiệp hiệu quả sẽ giúp giảm lãng phí cho xã hội trong đào tạo, cung cấp nguồn nhân lực địa phương đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, và quan trọng hơn cả là giúp mỗi cá nhân tìm được công việc mang lại hạnh phúc và thành công.

1.2. Các khái niệm cốt lõi trong quản lý hoạt động giáo dục

Để hiểu rõ về chủ đề, cần nắm vững các khái niệm chính. Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống các biện pháp của nhà trường, gia đình và xã hội nhằm chuẩn bị cho thế hệ trẻ về tư tưởng, tâm lý, tri thức và kỹ năng để sẵn sàng bước vào lao động. Quản lý giáo dục hướng nghiệp là hệ thống những tác động có chủ đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến các hoạt động hướng nghiệp nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Hoạt động này bao gồm các chức năng cốt lõi của quản lý: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá. Trong đó, việc xây dựng một mô hình quản lý giáo dục hướng nghiệp phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội huyện Bắc Trà Myđiều kiện giáo dục huyện Nam Trà My là yếu tố tiên quyết để thành công.

1.3. Mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục hướng nghiệp cấp THPT

Mục tiêu chính của GDHN ở cấp THPT là trang bị cho học sinh kiến thức về thế giới nghề nghiệp, kỹ năng tự đánh giá năng lực bản thân và thái độ chủ động, tự tin trong việc chọn ngành chọn nghề. Cụ thể, học sinh cần hiểu được định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, biết cách tìm kiếm thông tin về nghề và cơ sở đào tạo. Nhiệm vụ của nhà trường là giáo dục thái độ lao động, giới thiệu các nghề phổ biến, tìm hiểu năng khiếu và khuynh hướng nghề nghiệp của từng học sinh để có sự tư vấn phù hợp. Vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong việc thực hiện các nhiệm vụ này là vô cùng quan trọng, bởi họ là người gần gũi và thấu hiểu học sinh nhất.

II. Phân tích thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại Bắc Trà My

Nghiên cứu của Nguyễn Thanh Tú (2014) đã phác họa một bức tranh chi tiết về thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại các trường THPT huyện Bắc Trà My và Nam Trà My. Mặc dù đã có những nỗ lực nhất định, công tác này vẫn đối mặt với nhiều thách thức lớn, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả định hướng nghề nghiệp cho học sinh, đặc biệt là học sinh dân tộc thiểu số. Một trong những vấn đề nổi cộm là nhận thức về nghề nghiệp của học sinh còn rất hạn chế. Khảo sát cho thấy có đến 53,7% học sinh xem GDHN chỉ là “hoạt động phong trào” và 23,5% cho rằng nó “không cần thiết”. Điều này xuất phát từ việc nội dung chương trình còn chung chung, chưa gắn liền với đặc điểm kinh tế xã hội huyện Bắc Trà My và nhu cầu thực tế của thị trường lao động Quảng Nam. Bên cạnh đó, các phương pháp giảng dạy chủ yếu vẫn là thuyết trình truyền thống, thiếu tính tương tác và trải nghiệm thực tế. Lực lượng tham gia GDHN chủ yếu là giáo viên chủ nhiệm kiêm nhiệm, chưa được đào tạo chuyên sâu và thiếu các kỹ năng tư vấn hướng nghiệp cần thiết. Sự thiếu hụt về cơ sở vật chất, tài liệu cập nhật và kinh phí tổ chức các hoạt động ngoại khóa, tham quan doanh nghiệp cũng là một rào cản lớn. Những hạn chế này đòi hỏi cần có các giải pháp nâng cao hiệu quả hướng nghiệp một cách toàn diện và đồng bộ.

2.1. Nhận thức của học sinh và các yếu tố ảnh hưởng chọn nghề

Khảo sát cho thấy nhận thức về nghề nghiệp của học sinh dân tộc thiểu số còn nhiều bất cập. Các em chưa thấy được tầm quan trọng của việc lựa chọn nghề nghiệp một cách khoa học. Một con số đáng chú ý là 77,4% học sinh lựa chọn nghề nghiệp dựa trên “lời khuyên của thầy, cô giáo chủ nhiệm”, trong khi ảnh hưởng từ gia đình (18,6%) và các nguồn thông tin khác (0,93%) là rất thấp. Điều này cho thấy vai trò của giáo viên chủ nhiệm là then chốt nhưng cũng đặt ra một gánh nặng lớn nếu giáo viên không được trang bị đủ kiến thức và kỹ năng tư vấn hướng nghiệp. Việc thiếu thông tin đa chiều khiến quyết định chọn ngành chọn nghề của học sinh dễ mang tính cảm tính và thiếu cơ sở thực tiễn.

2.2. Hạn chế trong nội dung phương pháp và hình thức tổ chức

Nội dung chương trình GDHN hiện tại được đánh giá là chưa thực sự phù hợp. 93,3% học sinh cho rằng nội dung ít phù hợp với nhu cầu và điều kiện giáo dục huyện Nam Trà My cũng như Bắc Trà My. Các phương pháp giảng dạy tích cực như thảo luận nhóm, đóng vai, dự án được sử dụng ở mức độ “thỉnh thoảng” (Điểm trung bình = 1.49). Các hình thức tổ chức chủ yếu dừng lại ở quy mô lớp học, thiếu các hoạt động tham quan thực tế tại doanh nghiệp hay các buổi giao lưu với chuyên gia. Việc thiếu đa dạng hóa hình thức tổ chức khiến các buổi sinh hoạt hướng nghiệp trở nên kém hấp dẫn, chưa phát huy được tính chủ động, sáng tạo của học sinh trong quá trình khám phá bản thân và thế giới nghề nghiệp.

2.3. Khó khăn về đội ngũ và cơ sở vật chất phục vụ hướng nghiệp

Một trong những thách thức lớn nhất của công tác hướng nghiệp là sự thiếu hụt đội ngũ chuyên trách. Lực lượng giảng dạy chủ yếu là giáo viên kiêm nhiệm, chưa qua các lớp bồi dưỡng chuyên sâu. Các trường chưa có cán bộ tư vấn tâm lý học đường chuyên nghiệp. Thêm vào đó, điều kiện cơ sở vật chất còn rất nghèo nàn. Các trường thiếu phòng tư vấn riêng, thiếu tài liệu, tranh ảnh, video về nghề nghiệp, và đặc biệt là thiếu kinh phí để tổ chức các hoạt động trải nghiệm. Việc đánh giá hiệu quả công tác hướng nghiệp cũng chưa được thực hiện một cách bài bản, chủ yếu mang tính hình thức, chưa tạo ra động lực để cải tiến và đổi mới.

III. Cách nâng cao nhận thức và đổi mới nội dung hướng nghiệp

Để giải quyết những tồn tại trong thực trạng giáo dục hướng nghiệp, luận văn đề xuất nhóm biện pháp đầu tiên tập trung vào việc thay đổi từ gốc rễ: nâng cao nhận thức và đổi mới toàn diện nội dung, phương pháp. Đây được xem là các giải pháp nâng cao hiệu quả hướng nghiệp mang tính nền tảng. Trước hết, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để tất cả các lực lượng liên quan, từ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh đến phụ huynh và cộng đồng, hiểu đúng và đủ về tầm quan trọng của công tác hướng nghiệp. Nội dung tuyên truyền cần nhấn mạnh rằng lựa chọn nghề nghiệp không chỉ là vào đại học, mà còn có con đường học nghề, lập nghiệp tại địa phương, phù hợp với năng lực nghề nghiệp cá nhân và nhu cầu của xã hội. Song song đó, việc đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GDHN là yêu cầu cấp thiết. Chương trình cần được “mềm hóa”, kết hợp phần cứng của Bộ Giáo dục và Đào tạo với phần mềm được thiết kế riêng, phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội huyện Bắc Trà My và Nam Trà My. Thay vì các bài giảng lý thuyết khô khan, cần đa dạng hóa các hình thức tổ chức như ngoại khóa, tham quan, tọa đàm với chuyên gia, cựu học sinh thành đạt để tạo hứng thú và cung cấp trải nghiệm thực tế cho học sinh.

3.1. Đẩy mạnh tuyên truyền để thay đổi nhận thức về nghề nghiệp

Biện pháp này nhằm mục tiêu làm cho mọi người hiểu rằng định hướng nghề nghiệp là trách nhiệm của toàn xã hội. Cần tổ chức các buổi tư vấn cho phụ huynh ngay từ lớp 10, giúp họ có thêm thông tin về thị trường lao động và xu hướng phát triển nghề nghiệp. Đối với học sinh, cần tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, nói chuyện về những tấm gương thành công tại địa phương để các em thấy được giá trị của việc học tập và cống hiến cho quê hương. Việc thay đổi nhận thức về nghề nghiệp, xóa bỏ tư tưởng “học để làm quan” là yếu tố cốt lõi để công tác phân luồng học sinh sau THPT đạt hiệu quả.

3.2. Đổi mới nội dung chương trình gắn liền với thực tiễn địa phương

Nội dung GDHN cần được xây dựng dựa trên nhu cầu thực tế của địa phương, dạy những gì xã hội cần. Cần tích hợp kiến thức phổ thông với kiến thức nghề nghiệp, đặc biệt là các ngành nghề có tiềm năng phát triển tại Bắc Trà My và Nam Trà My như nông-lâm nghiệp công nghệ cao, du lịch sinh thái, chế biến nông sản. Nhà trường cần chủ động biên soạn các tài liệu riêng, giới thiệu về các nghề truyền thống, các cơ hội việc làm tại các doanh nghiệp, khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam. Điều này giúp học sinh có cái nhìn thực tế hơn về thị trường lao động Quảng Nam và có những lựa chọn sát với thực tế.

3.3. Đa dạng hóa phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động GDHN

Để nâng cao hiệu quả, cần thoát khỏi phương pháp thuyết trình đơn điệu. Cần tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, tổ chức các hoạt động ngoại khóa như “Ngày hội tư vấn tuyển sinh”, tham quan các trường đại học, cao đẳng, trường nghề và các cơ sở sản xuất. Việc mời các nghệ nhân, doanh nhân, cựu học sinh thành đạt đến giao lưu sẽ mang lại những bài học sống động và truyền cảm hứng mạnh mẽ. Đồng thời, cần hướng dẫn học sinh kỹ năng tự tìm hiểu thông tin nghề nghiệp qua internet và các kênh truyền thông khác, phát huy tính chủ động trong việc xây dựng kế hoạch sự nghiệp cho bản thân.

IV. Bí quyết xây dựng đội ngũ và tăng cường phối hợp đa bên

Một mô hình quản lý giáo dục hướng nghiệp thành công không thể thiếu hai yếu tố trụ cột: đội ngũ nhân sự có năng lực và sự phối hợp chặt chẽ giữa các bên liên quan. Đây là nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả hướng nghiệp tập trung vào nguồn lực và sức mạnh tổng hợp. Biện pháp cốt lõi là xây dựng một đội ngũ giáo viên và các lực lượng tham gia GDHN có đủ phẩm chất và năng lực. Trước mắt, cần tận dụng đội ngũ giáo viên sẵn có, tổ chức các lớp tập huấn, bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức nghề nghiệp, kỹ năng tư vấn hướng nghiệptâm lý học đường. Đặc biệt, cần phát huy vai trò của giáo viên là người dân tộc thiểu số, những người am hiểu sâu sắc về văn hóa và tâm lý học sinh. Bên cạnh đó, việc tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là yếu tố mang tính quyết định. Nhà trường cần chủ động xây dựng cơ chế liên kết với các doanh nghiệp, các cơ sở đào tạo nghề, các cơ quan quản lý lao động tại địa phương. Sự phối hợp này không chỉ giúp cung cấp thông tin chính xác về thị trường lao động Quảng Nam mà còn tạo điều kiện cho học sinh được tham quan, thực tập, trải nghiệm môi trường làm việc thực tế, từ đó giúp các em chọn ngành chọn nghề một cách tự tin và có cơ sở.

4.1. Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chuyên trách hướng nghiệp

Chất lượng GDHN phụ thuộc trực tiếp vào đội ngũ giáo viên. Cần lựa chọn những giáo viên cốt cán, tâm huyết để tham gia các lớp tập huấn chuyên sâu do Sở Giáo dục và Đào tạo tổ chức. Nhà trường cần đưa nội dung bồi dưỡng về GDHN vào chương trình bồi dưỡng thường xuyên hàng năm. Đồng thời, cần có cơ chế, chính sách đãi ngộ hợp lý để động viên, khuyến khích những giáo viên làm tốt công tác hướng nghiệp. Về lâu dài, cần đề xuất có biên chế giáo viên tư vấn chuyên trách tại các trường THPT, những người được đào tạo bài bản về tâm lý và giáo dục nghề nghiệp.

4.2. Tăng cường phối hợp giữa nhà trường gia đình và xã hội

Thành công của GDHN đòi hỏi sức mạnh tổng hợp. Nhà trường cần thành lập Ban tư vấn hướng nghiệp, với sự tham gia của đại diện phụ huynh, doanh nghiệp và chính quyền địa phương. Cần thường xuyên tổ chức các buổi họp, tọa đàm để chia sẻ thông tin và thống nhất kế hoạch hành động. Việc giữ liên lạc với các cựu học sinh thành đạt, mời họ về trường chia sẻ kinh nghiệm là một cách làm hiệu quả. Phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội sẽ tạo ra một môi trường giáo dục đồng bộ, hỗ trợ tối đa cho học sinh trong quá trình định hướng nghề nghiệp.

4.3. Tăng cường điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực hỗ trợ

Để các hoạt động GDHN được triển khai hiệu quả, việc đầu tư cơ sở vật chất là không thể thiếu. Mỗi trường cần xây dựng một “Phòng sinh hoạt hướng nghiệp” hoặc “Góc hướng nghiệp” tại thư viện, trang bị đầy đủ máy tính kết nối internet, sách, báo, tạp chí, tài liệu về các ngành nghề và thông tin tuyển sinh. Nhà trường cần chủ động huy động các nguồn lực tài chính từ ngân sách, xã hội hóa giáo dục và các dự án hỗ trợ để có kinh phí tổ chức các hoạt động tham quan, ngoại khóa, mời chuyên gia. Đây là điều kiện cần để các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp có thể đi vào thực tiễn.

V. Hướng dẫn ứng dụng và đánh giá hiệu quả các biện pháp này

Việc đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp chỉ là bước đầu; triển khai và đánh giá hiệu quả công tác hướng nghiệp một cách khoa học mới là yếu tố quyết định sự thành công. Luận văn đã tiến hành khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp được đề xuất thông qua việc lấy ý kiến từ 37 chuyên gia, cán bộ quản lý giáo dục của Sở GD&ĐT Quảng Nam và các trường THPT miền núi. Kết quả cho thấy các biện pháp đều được đánh giá rất cao, khẳng định tính đúng đắn và phù hợp với thực tiễn. Để áp dụng hiệu quả, Hiệu trưởng cần tăng cường vai trò tổ chức, chỉ đạo, giám sát và kiểm tra. Cần thành lập Ban Hướng nghiệp chính thức, ban hành quy chế làm việc rõ ràng, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên. Công tác lập kế hoạch phải chi tiết, khoa học, bám sát mục tiêu và điều kiện thực tế của nhà trường. Quan trọng nhất, hoạt động kiểm tra, đánh giá phải được tiến hành thường xuyên và định kỳ, không chỉ để giám sát mà còn để rút kinh nghiệm, kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đảm bảo các giải pháp nâng cao hiệu quả hướng nghiệp thực sự mang lại giá trị cho học sinh.

5.1. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của giải pháp

Kết quả khảo nghiệm cho thấy 100% chuyên gia đánh giá các biện pháp như “Đẩy mạnh công tác tuyên truyền” và “Đổi mới nội dung, phương pháp” là “Cần thiết” và “Rất cần thiết”. Về tính khả thi, các biện pháp này cũng nhận được sự đồng thuận cao. Điều này chứng tỏ các giải pháp đề xuất không chỉ đúng về mặt lý luận mà còn có khả năng áp dụng cao trong bối cảnh điều kiện giáo dục huyện Nam Trà My và Bắc Trà My. Kết quả này là cơ sở vững chắc để các nhà trường mạnh dạn triển khai các biện pháp vào thực tế.

5.2. Tăng cường vai trò quản lý Chỉ đạo giám sát và kiểm tra

Để các biện pháp không chỉ nằm trên giấy, vai trò của người đứng đầu là Hiệu trưởng vô cùng quan trọng. Cần tăng cường công tác chỉ đạo, đảm bảo kế hoạch được triển khai đồng bộ. Hoạt động giám sát, kiểm tra cần được thực hiện thường xuyên qua dự giờ, kiểm tra hồ sơ, sổ sách và lấy phản hồi từ học sinh. Mỗi học kỳ cần tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá hiệu quả công tác hướng nghiệp, tìm ra những mặt mạnh để phát huy và những hạn chế để khắc phục. Một chu trình quản lý hoạt động giáo dục chặt chẽ sẽ đảm bảo các mục tiêu được hoàn thành.

VI. Kết luận và tương lai của công tác hướng nghiệp miền núi

Nghiên cứu về các biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh THPT huyện Bắc Trà My và Nam Trà My đã khẳng định vai trò cấp bách của hoạt động này trong việc đào tạo nguồn nhân lực địa phương. Những thách thức về nhận thức, nội dung, phương pháp, đội ngũ và cơ sở vật chất là có thật, nhưng hoàn toàn có thể khắc phục nếu có một chiến lược quản lý đúng đắn và sự chung tay của toàn xã hội. Sáu biện pháp được đề xuất, từ nâng cao nhận thức, đổi mới nội dung, xây dựng đội ngũ, tăng cường phối hợp đến đầu tư nguồn lực và kiện toàn công tác quản lý, tạo thành một hệ thống giải pháp toàn diện và khả thi. Việc áp dụng thành công các biện pháp này không chỉ giúp học sinh định hướng nghề nghiệp tốt hơn, góp phần phân luồng học sinh sau THPT hiệu quả, mà còn đóng góp trực tiếp vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội bền vững của hai huyện miền núi tỉnh Quảng Nam. Tương lai của công tác hướng nghiệp phụ thuộc vào quyết tâm đổi mới của ngành giáo dục và sự quan tâm đầu tư đúng mức của các cấp chính quyền. Đây là một hành trình dài, đòi hỏi sự kiên trì và nỗ lực không ngừng.

6.1. Tóm lược các kết quả nghiên cứu chính của luận văn

Luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp, phân tích sâu sắc thực trạng giáo dục hướng nghiệp tại hai huyện Bắc Trà My và Nam Trà My, chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu và nguyên nhân. Trên cơ sở đó, 6 biện pháp quản lý cụ thể, mang tính hệ thống đã được đề xuất và chứng minh tính cần thiết, khả thi thông qua khảo nghiệm chuyên gia. Các biện pháp này là một tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà quản lý giáo dục tại các trường THPT có điều kiện tương tự.

6.2. Các khuyến nghị để phát triển giáo dục nghề nghiệp bền vững

Để công tác hướng nghiệp phát triển bền vững, luận văn đưa ra các khuyến nghị cụ thể. Đối với các cấp quản lý, cần tăng chỉ tiêu cử tuyển, có chính sách thu hút và sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số sau đào tạo. Đối với Sở GD&ĐT, cần thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng cho giáo viên, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất và chỉ đạo sâu sát hơn nữa. Đối với các trường, cần chủ động, sáng tạo trong việc triển khai các biện pháp, đặc biệt là tăng cường mối liên hệ với doanh nghiệp và chính quyền địa phương để nắm bắt nhu cầu thị trường lao động Quảng Nam.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ giáo dục học biện pháp quản lý giáo dục hướng nghiệp cho học sinh trung học phổ thông huyện bắc trà my và nam trà my tỉnh quảng nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP. Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHO THONG 1. KHÁI QUÁT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VÁN ĐÈ 1. GD HN một số nước trên thế giới Từ lâu, ở nhiều nước trên thế giới, GDHN và tư vấn HN giữ vai trò rất quan trọng trong hệ thống GD.

Hoạt động này được tích hợp trong nhiều môi trường GD khác nhau. Một số nước như Pháp, Đức, Hoa Kì, Hàn Quốc, Án Độ, Anh., quyền bảo đảm tư vấn HN còn được khẳng định trong các bộ luật. HS bậc trung học ở hầu hết các quốc gia trên thế giới đều bắt đầu từ độ tuổi 15 — 16 và tốt nghiệp ở độ tuổi 18 — 19. Tùy theo điều kiện KT-XH và chính trị của mỗi nước mà mỗi quốc gia có thễ có mục tiêu, chương trình và nội dung GD khác nhau ở bậc học trung học.

Tuy nhiên, mục tiêu GDTHPT chịu ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố thị trường LĐ, cấu trúc HS và năng lực tiếp nhận của HS từ bậc trung học lên hệ thống GD sau trung học và sự liên thông trong đào tạo. Nhìn chung, GDTHPT trên thế giới tồn tại những mô hình sau: THPT định hướng theo hướng hàn lâm — chuẩn bị cho HS sau khi tốt nghiệp có thể vào học tại các viện ĐH bốn, năm hoặc các trường ĐH;THPT cả theo hướng hàn lâm và hướng nghề. GDHN ở Cộng hòa Pháp Từ giữa thế kỉ XIX, ở Pháp đã xuất én cuốn sách hướng dẫn chọn nghề mà nội dung chủ yếu là về vấn đề phát triển đa dạng của nghề nghiệp do sự phát triển công nghiệp và phải giúp đỡ thanh niên trong sự lựa chọn nghề nghiệp. Hệ thống GD của nước Cộng hòa Pháp đặc trưng cho mô hình hệ thống GD Châu Âu cô điển.

Nội dung GDHN trong trường trung học được phân hóa theo. nhiều phân ban hẹp, trong đó phần lớn các ban kĩ thuật-công nghệ đào tạo kĩ thuật viên. Kế hoach dạy ở các chuyên ban kĩ thuật — công nghệ bao gồm nhiều môn văn hóa PT và kĩ thuật nghề nghiệp với tỉ lệ khoảng 50%. Đến nay, đã có nhiều công trình khoa học của các tác giả ở Viện nghiên cứu Quốc gia về LĐ và HN giới thiệu một cách chỉ tiết, sinh động về mô hình GDHN.

Các tác giả đã nhấn mạnh đến môi trường LÐ, vai trò to lớn của các trung tâm HN trong công tác tổ chức GDHN cho HS và thanh, thiếu niên, trong. đó, các tổ chức xã hội đã có nhiều đóng góp trong việc phối hợp với nhà trường, và các trung tâm đề tô chức GDHN. GDHN 6 Hoa Ki Tại Hoa Kì, chương trình “GD nghề nghiệp” đã được đưa vào các cấp học PT. Chương trình này đã tạo điều kiện cho HS được tham gia vào các quá trình công nghệ đề giải quyết các vấn đề thực tế của đất nước.

Việc huy động của các tổ chức xã hội tham gia GDHN cho HSPT khá tốt. Công tác tô chức thành lập các hội đồng bao gồm đại diện các trường học, xí nghiệp, các thành phần kinh tế.là nhằm thực hiện sự hợp tác giữa nhà trường và xã hội. GD nghề nghiệp trong trường PT ở Hoa Kì là chuẩn bị cho người học kiến thức và kĩ năng ở mức độ tham gia vào thị trường LÐ trong những nghề đòi hỏi trình độ thấp hơn trình độ ĐH. Tích hợp GD văn hóa và GD nghề đang là xu hướng chính ở bậc học THPT của Hoa Kì.

Những đạo luật và chính sách GD ngày nay có xu hướng khuyến khích HSTHPT tiếp tục học ở bậc học sau THPT. Các mô hình GDTHPT ở Hoa Kì rất đa dạng nhằm làm cho quá trình GD phù hợp hơn với nhu cầu, khả năng của cá nhân người học và lợi ích cộng đồng. e GDHN ở Nhật Bản Trong quá trình phát triển và hoàn thiện hệ thống GD, Nhật Bản sớm quan tâm giải quyết tốt mối quan hệ giữa học vấn văn hóa PT với kiến thức và kĩ năng LĐ - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trường THPT vừa học văn hóa PT vừa học các môn học kĩ thuật về các lĩnh vực cơ khí, ngư 1.

GDHN cho học sinh THPT ở Việt Nam Công tác GDHN ở nước ta nằm trong chủ trương đôi mới GDPT của Dang và Nhà nước. Có thể nói lĩnh vực HN và GDHN đã được quan tâm từ rất lâu ở Việt Nam. Đặc biệt là Nghị định 126/CP ngày 19/3/1981 về “CTHN trong nhà trường PT”. Sau đó, liên tiếp các văn bản về CTHN được ban hành như: Thông tư 31/TT của Bộ GD&ĐT ngày 17/11/1981 “Vẻ việc hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 126/CP”.

Nghị quyết Đại hội Đảng XI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 2011 cũng tỉ tục khẳng định HN trở thành nhiệm vụ của trường PT: “7ưởng PT phải chuyển mạnh theo hướng dạy kiến thức phố thông cơ bản, lao động kỹ thuật tổng hợp, HN và dạy nghề”. Ngày 16 tháng 3 năm 2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 711/QĐ-TTg về việc Phê duyệt "Chiến lược phát triển giáo dục 2011 — 2020” nói rõ đối với GDPT “Tập trung phát triển trí tuệ, thể chất phẩm chất năng lực công dân, phát hiện và dôi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS. HS THPT phải được tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn sau học PT có chất lượng ”. Vé phía các nhà làm công tác GD trong thời gian gần đây, van dé GDHN chọn nghề cho HSPT đã được quan tâm đặt biệt, nhiều tài liệu, giáo trình đã được biên soạn, tổ chức nhiều Hội thảo, nhiều đề tài nghiên cứu về công tác GDHN như: Tác giả Phạm Tắt Dong - chủ biên với đề tài khoa học cấp nhà nước: “Thực trạng và giải pháp phát triển và nâng cao hiệu quả CTHN_ trong trường PT'(2003) đề tài đã khảo sát công tác GDHN cho HSTHPT trên một diên rộng (35 tỉnh, thành phó).

Đây là một trong những công trình khoa học về HN được nghiên cứu khá toàn diện cả về lí luận lẫn thực tiễn. Tác giả Hà Thế Truyền với : “GDHN cho học sinh PT bậc THPT- Thực trạng và kiến nghị ” được đăng trong kỷ yếu Hội thảo khoa học năm 2002. Bài viết phân tích thực trạng hoạt động HN ở các trường THPT và đưa ra kiến nghị cho CTHN ở các trường. Tác giả Nguyễn Văn Hộ với công trình khoa học: “#oạt động GDHN và giảng dạy kĩ thuật trong trường THPT" (2006) đã nhắn mạnh việc hình thành các luận chứng cho hệ thống HN phô thông trong điều kiện KT-XH của đất nước và đề xuất một số hình thức phối hợp giữa nhà trường PT với các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản xuất trong việc HN dạy nghề cho học sinh PT.

Tác giả Nguyễn Đức Trí với “Một số vấn đề HN và GDHN trong trường PT- vá tà định hướng giải pháp "đã nêu lên thực trạng của GD Việt Nam là: ~ Cầu việc làm lớn hơn rất nhiều so với cung việc làm. ~ Cầu học lớn hơn nhiều so với cung học. ~ Quy mô đào tạo tăng nhưng chưa có tư vấn nghề phù hợp; cơ cấu ngành nghề; cơ cấu vùng miền rất bất hợp lí; chất lượng nghề thấp dẫn đến tình trạng vừa thừa vừa thiếu. ~ Số người đào tạo nghề dễ tìm việc hơn làm hơn số người đào tạo trình độ DH va CD, trong khi HS sau khi tốt nghiệp THPT lại đỗ xô vào ĐH và CĐ, xem đào tạo nghề là “bước đường cùng” [15,tr.

Một số công trình nghiên cứu gần đây cũng cho thấy thực trạng về hoạt động GDHN cho HSPT ở một số trung tâm KTTH-HN cũng như các trường THPT và đưa ra nhận xét: + Trên 90% HS trung học có nhu cầu tư vấn HN. + Nhận thức của một số cán bộ quản lí GD, đặc biệt là GV về thị trường LD, thi trường đào tạo còn nhiều hạn chế. + Mục tiêu GDHN của trường THPT và các trung tâm KTTH-HN còn chung chung chưa sâu sắc. + Kĩ năng, phương pháp tổ chức tư vấn HN thiếu tính hệ thống và đồng bộ.

+ Chưa có cơ chế phối hợp giữa nhà trường với trung tâm KTTH-HN 10 Về GDHN cho HSTHPT ở nước ta tác giả Bùi Việt Phú với: “Đổi mới GDHN cho HS phổ thông " (2013) kết luận như sau: “Có thê nói rằng, các công trình nghiên cứu về GDHN cho HSPT của các tác giả trong nước và thế giới có nhiều giá trị khoa học về lí luận và thực tiễn đối với việc ¡ mới GDHN cho HSPT ở nước ta”. Và tác giả đã rút ra một số nhận xét sau đây: 1. Các công trình khoa học được các tác giả nghiên cứu ở các khía cạnh khác nhau, cách khai thác, xây dựng khác nhau nhưng đều có chung một mục tiêu nâng cao hiệu quả GDHN, đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực. Trong các công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước, đã làm sáng tỏ các khái niệm, nội dung, tính chất và các hình thức GDHN trong nhà trường PT.

Mặc dù, mỗi quốc gia có một cách hiểu, cách làm khác nhau, nhưng tắt cả đều giúp cho HS trong các trường PT có một cách nhìn đúng đắn, có một sự hiểu biết nhất định về nghề nghiệp và thị trường LD, tạo niềm tin để cho các em hòa nhập vào cuộc sống. Trong quá trình nghiên cứu cả về lí luận và thực tiễn cho thấy, nhiều nước trên thế giới như Liên Xô(cũ), Pháp, Đức. đã làm tốt việc huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia HN với trường PT. Đây là đặc điểm khác biệt so với Việt Nam, các tác giả đã đi sâu khai thác các yếu tổ tác động đến công tác GDHN trong trường PT, thể hiện tầm nhìn, định hướng của GDHN trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa trong bối cảnh của mỗi quốc gia.37] Trong điều kiện của đất nước ta hiện nay, GDHN có nhiều vấn đề không còn phù hợp cần được quan tâm giải quyết.

Trong đó, như công tác quản lí của nhà trường PT về HN nhằm nâng cao hiệu quả trong CTHN và nhất là nghiên cứu về HN cho đối tượng HSDTTS nên đề tài này tiếp thu các dữ liệu nghiên cứu đã có và xác lập cho mình định hướng mới nhằm nâng cao hiệu quả CTHN cho HSDTTS. Vấn đề GDHN cho HSDTTS cấp THPT “Trong Quyết định số 34/2006/QĐ - TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án đào tạo bồi dưỡng cán bộ công chức xã, phường, thị trấn người DTTS giai đoạn 2006 - 2010 đã xác định rõ mục tiêu như sau: “Đảo tao, bdi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức người DTTS, đặc biệt là cán bộ chủ chốt, có bản lĩnh chính trị vững.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ