Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC Trong mọi thời đại, vấn đề giáo dục đạo đức cho HS luôn được xác định là vấn đề quan trọng hàng đầu trong nhà trường. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức từ góc độ tâm lý học, giáo dục học của tác giả trong nước và thế giới được phổ biến như: 1. Tổng quan nghiên cứu về giáo dục đạo đức trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Johann Heinrich Pestalozzi (1746 - 1827) rất quan tâm đến sự phát triển toàn diện của con người và ông cũng đề cao việc phát triển căn cứ vào quy luật của tự nhiên “Giáo dục phải phù hợp với tự nhiên”.
Ông cho rằng nhiệm vụ trung tâm của giáo dục là giáo dục đạo đức cho trẻ em dựa trên cơ sở chung nhất là tình yêu con người. Tình yêu đó bắt nguồn từ gia đình, trước hết đối với cha mẹ, anh chị rồi đến thầy cô, bạn bè và mọi người trong xã hội. Theo Johann Heinrich Pestalozzi, gia đình đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của trẻ. Tình yêu thương con người của trẻ em sớm hình thành trong gia đình sẽ tiếp tục được củng cố và phát triển trong nhà trường.
Và theo quan điểm của ông, giáo dục đạo đức cho HS phải thực hiện bằng hành động rèn luyện chứ không bằng cách dạy trẻ những bài thuyết giáo về đạo đức [27, tr. Ăng-tông-Xê-mi-ô-vich Ma-ca-ren-cô (1888 - 1939) nhà giáo dục Nga, người có công làm một cuộc thực nghiệm giáo dục gần 20 năm ở “trại lao động Gooki và Dzenzinxki” nhằm cải tạo trẻ em phạm pháp thành công của cuộc thực nghiệm giáo dục của Macarencô ở chỗ không chỉ giáo dục trẻ em phạm pháp trong trường mà ông đã gắn liền giáo dục lao động, trong sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội. Ông đã chứng minh chân lý giáo dục của học thuyết Mác - Lênin và khái 7 quát thành các quan điểm giáo dục xã hội chủ nghĩa rất cơ bản đó là: - Giáo dục trong hoạt động xã hội. - Giáo dục trong tập thể và bằng tập thể.
- Giáo dục trong lao động. - Giáo dục bằng tiền đồ viễn cảnh. Asyl Vasyl Olexanddrovych Sukhomlynsky (1918 - 1970) là người giáo viên tiểu học trường làng trở thành viện sĩ thông tấn viện Hàn Lâm Khoa học Giáo dục. Tác phẩm “Giáo dục con người chân chính như thế nào?” của Asyl Vasyl Olexanddrovych Sukhomlynsky, dưới hình thức những lời khuyên bảo của nhà giáo dục với trẻ em, thanh thiếu niên và những lời của tác giả nói với các nhà giáo dục.
Ông trình bày một cách cụ thể, sinh động, hấp dẫn các phạm trù đạo đức, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức cùng phương pháp hình thành chung trong học sinh. “Muốn cho lý tưởng đạo đức trở thành hiện thực, cần dạy cho con người biết sống đúng, hành động đúng, có thái độ đúng đối với bản thân và đối với người khác”. Asyl Vasyl Olexanddrovych Sukhomlynsky đã nêu lên nhiều kinh nghiệm phối hợp các lực lượng giáo dục xã hội, gia đình, nhà trường, tận dụng những điều kiện xã hội, tự nhiên vào quá trình giáo dục thế hệ trẻ [43, tr. Triết học về sự phát triển đạo đức xuất bản năm 1971 của Kohlberg (1927 - 1987) là sự kế thừa những thành quả nghiên cứu của tâm lý học đạo đức và triết học đạo đức, đặc biệt là “phán đoán đạo đức trẻ em” (1932) của nhà tâm lý Thụy Sĩ, Jean Piaget (1896 - 1980), triết học đạo đức của Immanuel Kant (1724 - 1804) và học thuyết về sự công bằng của John Rawls (1921).
Kế thừa học thuyết của Piaget và kết quả thực nghiệm dựa trên phương pháp vấn đề một tình huống khó xử cụ thể, Kohlberg đã đưa ra một học thuyết về sự phát triển nhận thức đạo đức của con người có cấu trúc từ thấp lên cao [27]. Từ triết lý của Karl Marx về bản chất xã hội của cá nhân là “Tổng hòa các quan hệ xã hội” đến những lý luận về sự kết hợp giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục. là một chặng đường dài hơn nửa thế kỷ của thế kỷ XX. Tất cả những lý thuyết giáo dục xã hội chủ nghĩa là cơ sở lý luận cơ bản của việc tổ chức hoạt động 8 giáo dục ngoài giờ lên lớp hiện nay.
Wing Sze MAK (2014), nhà giáo sư tâm lý học Trung Quốc đánh giá hiệu quả giáo dục đạo đức và tầm quan trọng cách cư xử xã hội tích cực cho học sinh tiểu học [47]. Wen Grace Shu (2016), giáo dục đạo đức ở TH là một lĩnh vực giáo dục quan trọng bao gồm nhiều lĩnh vực và phân tích giáo dục đạo đức có ảnh hưởng của nó đối với sự phát triển đạo đức của trẻ em Trung Quốc [48]. Hamidah Yusof, Mohd Asri Mohd Noor, Norasibah Abdul Jalil, Mahaliza Mansor, Marinah Awang (2018), khát vọng giáo dục ở Malaysia phương pháp giảng dạy GV làm thế nào để học sinh áp dụng các giá trị nuôi dưỡng đạo đức ở tiểu học [45]. Saule Sadykova1*, Aliya Yergazina1, Zhaiyk Sultan1, Valeriy Korvyakov2, Valentina Ryndak3 (2018), các HĐNK sở hữu một bộ phận cơ hội trong sự phát triển tâm linh và đạo đức của HS vì nó là sự tích hợp trong nội dung phản ánh chính chủ thể trên cơ sở trách nhiệm, lương tâm, trung thực, hiểu biết lẫn nhau, lòng thương sót đã chứng minh rằng các HĐNK có tất cả các tính chất cần thiết của hoạt động nhằm phát triển tinh thần và đạo đức trong HĐNK [46].
Vấn đề giáo dục đạo đức cũng được nhiều quốc gia trên thế giới như Nhật Bản, Mỹ, Thái Lan, Phần Lan. đặc biệt quan tâm. Tại Mỹ, mục tiêu giáo dục đạo đức của Mỹ là cung cấp cho HS những kiến thức và cơ hội thực hành, vận dụng để xây dựng được nền tảng tính cách bền vững, hài hòa dựa trên ba mục tiêu lớn của cuộc đời; giáo dục HS trở thành những công dân có trách nhiệm, hiểu biết và có thể tham gia hiệu quả vào đời sống chính trị, xã hội của đất nước. Nội dung giáo dục đạo đức của Mỹ gồm 6 trụ cột là sự tin cậy, tôn trọng, tinh thần trách nhiệm, công bằng, quan tâm, bổn phận công dân.
Phương pháp giáo dục đạo đức ở Mỹ là nêu gương, giải thích, cổ vũ, khích lệ, bảo đảm môi trường đạo đức, trải nghiệm và kỳ vọng vào sự ưu tú [16]. Tại Nhật Bản, giáo dục đạo đức tập trung vào ba điểm: Lòng tôn trọng cá nhân, quan hệ cá nhân và cộng đồng. Khác nhiều nước thực hiện giáo dục đạo đức 9 chủ yếu thông qua các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông, Nhật Bản thực hiện giáo dục đạo đức qua toàn thể các môn học, qua hoạt động đặc biệt qua sinh hoạt hằng ngày [16]. Tại Thái Lan, mục tiêu giáo dục đạo đức của Thái Lan giúp HS nhận thức những điều tốt, biết quan tâm đến điều tốt và làm điều tốt.
Các nội dung cụ thể là đáng tin cậy, trung thực và nói sự thật; tôn trọng, lịch sự và nhã nhặn; trách nhiệm, tính công bằng; sự chu đáo, tốt bụng, lòng thương; ý thức công dân. Phương pháp giáo dục chủ yếu ở Thái Lan là phương pháp học tập hợp tác, phương pháp giáo dục truyền thống, phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp sắm vai, phương pháp học tập qua kinh nghiệm [16]. Như vậy, các nghiên cứu ngoài nước đã đề cập giáo dục đạo đức ở các khía cạnh khác nhau nhưng mỗi nước đều thể hiện đặc thù riêng về lĩnh vực giáo dục. Tùy thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị của mình mà tiến hành công tác giáo dục đạo đức HS.
Điều đó được thể hiện trong mục tiêu, nội dung, cách thức giáo dục đạo đức HS ở các nước. Tại Việt Nam Ở Việt Nam, những nguyên tắc, chuẩn mực, phẩm chất đạo đức cá nhân và xã hội đang tác động mạnh mẽ, thường xuyên đến các mối quan hệ ứng xử giữa người với người, giữa cá nhân và xã hội, nhằm hướng đến mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, xã hội, công bằng, dân chủ, văn minh. Theo Hồ Chí Minh, giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ là vô cùng quan trọng và cần thiết, căn dặn ta phải chăm lo giáo dục đạo đức cho đoàn viên thanh viên, HS. Hiện nay, ở Việt Nam đã có một số nhà giáo dục nghiên cứu về giáo dục đạo đức và giáo dục đạo đức thông qua các môn học và HĐNK cho HS.
Tác giả Đặng Vũ Hoạt nghiên cứu vai trò của giáo viên chủ nhiệm và đưa ra những định hướng cho giáo viên chủ nhiệm trong việc tăng cường đổi mới phương pháp giáo dục đạo đức cho HS nhà trường phổ thông [14]. Tác giả Phạm Minh Hạc đề ra sáu giải pháp cơ bản giáo dục đạo đức cho con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay: “Tiếp tục đổi mới nội dung, hình thức 10 giáo dục đạo đức trong trường hợp; củng cố giáo dục với cộng đồng, kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức với việc thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật, tổ chức thống nhất các phong trào thi đua yêu nước và phong trào rèn luyện đạo đức lối sống cho toàn dân, trước hết cho cán bộ, đảng viên và thầy cô giáo ở các trường học, xây dựng cơ chế tổ chức và chỉ đạo thống nhất toàn xã hội về giáo dục đạo đức, nâng cao nhận thức cho con người [29]. Ở góc độ pháp luật, đã có nhiều văn bản của Nhà nước đề cập đến giáo dục đạo đức cho học sinh như: Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em số 25/2004/QH11 được Quốc Hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15/6/2004 và có hiệu lực từ ngày 1/1/2005, điều 28 khoản 2 quy định “Nhà trường và các cơ sở giáo dục khác có trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về đạo đức, tri thức, thẫm mỹ, thể chất, giáo dục lao động hướng nghiệp cho trẻ em, chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em” [31]. Luật giáo dục của Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2010, điều 2 quy định: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẫm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”[32].
Giáo dục đạo đức cũng được nhiều tác giả chọn làm đề tài luận văn.