Luận văn thạc sĩ: Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho SV ngành GD Mầm non - ĐHSPKT TPHCM

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành giáo dục mầm non tại trường cao đẳng Cần Thơ.

Chuyên ngành

Giáo dục học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2016

175
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về giáo dục đạo đức nghề nghiệp sinh viên mầm non

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp là quá trình hình thành hệ thống nguyên tắc, quy tắc và chuẩn mực đạo đức cho người lao động trong quá trình thực hiện công việc chuyên môn. Đối với sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trường Cao đẳng Cần Thơ, vấn đề này càng trở nên cấp thiết vì giáo viên mầm non là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ nhỏ trong giai đoạn phát triển quan trọng nhất. Đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non bao gồm nhiều phẩm chất cốt lõi. Đó là lòng yêu thương trẻ, tính kiên nhẫn, tinh thần trách nhiệm và sự tận tụy với nghề. Trường Cao đẳng Cần Thơ là cơ sở đào tạo trọng điểm tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trường đào tạo hệ Cao đẳng Giáo dục Mầm non theo chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đội ngũ giảng viên có trình độ sau đại học chiếm tỷ lệ cao với 135 người, trong đó có 6 tiến sĩ và 129 thạc sĩ. Công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp được tích hợp trong toàn bộ quá trình đào tạo, từ lý thuyết đến thực hành tại trường mầm non thực hành.

1.1. Khái niệm đạo đức nghề nghiệp giáo viên mầm non

Đạo đức nghề nghiệp là hình thái ý thức xã hội phản ánh quan hệ giữa cá nhân với xã hội, với người khác và với chính mình. Theo từ điển tiếng Việt, nghề nghiệp là công việc mà người ta thực hiện trong suốt cả cuộc đời, đòi hỏi người lao động phải có chuyên môn nhất định. Đối với giáo viên mầm non, đạo đức nghề nghiệp thể hiện qua tình yêu thương trẻ, sự kiên nhẫn, tính trung thực và tinh thần trách nhiệm cao. Giáo viên phải thường xuyên trau dồi đạo đức, nâng cao trình độ lý luận và chuyên môn nghiệp vụ. Nghề giáo viên mầm non đặc biệt yêu cầu phẩm chất nhân cách tốt vì trẻ nhỏ học hỏi và bắt chước hành vi của người lớn xung quanh.

1.2. Vai trò của Trường Cao đẳng Cần Thơ trong đào tạo

Trường Cao đẳng Cần Thơ đóng vai trò quan trọng trong đào tạo giáo viên mầm non cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trường có tổ chức bộ máy hoàn chỉnh với 1 Hiệu trưởng, 3 Phó hiệu trưởng, 10 phòng chức năng, 7 khoa chuyên môn và 2 trung tâm. Cơ sở vật chất bao gồm 80 phòng học, hệ thống giảng đường, phòng thí nghiệm thực hành và nhà tập đa năng. Tổng số cán bộ viên chức là 392 người, đảm bảo chất lượng đào tạo. Trường đào tạo hệ Cao đẳng Giáo dục Mầm non theo chương trình khung chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, kết hợp lý thuyết với thực hành tại trường mầm non thực hành.

II. Phân tích thực trạng đạo đức nghề nghiệp sinh viên mầm non

Thực trạng đạo đức nghề nghiệp của sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trường Cao đẳng Cần Thơ phản ánh nhiều vấn đề đáng quan tâm. Phần lớn sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của đạo đức nghề nghiệp. Tuy nhiên, một bộ phận sinh viên còn thiếu động lực học tập, chưa xác định rõ lý tưởng nghề nghiệp. Tình trạng đi học muộn, thiếu chuẩn bị bài, thiếu tích cực trong giờ thực hành vẫn xảy ra. Một số sinh viên chưa thực sự yêu trẻ, thiếu kiên nhẫn khi xử lý tình huống sư phạm. Nguyên nhân xuất phát từ nhiều phía. Về phía sinh viên, một số em chọn nghề vì chưa có định hướng rõ ràng, không xuất phát từ đam mê thực sự. Về phía gia đình, nhiều bậc cha mẹ chưa quan tâm đúng mức đến việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho con. Về phía nhà trường, nội dung và phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp đôi khi còn khô khan, thiếu thực tiễn. Chương trình đào tạo cần tăng cường hơn nữa các hoạt động trải nghiệm thực tế tại trường mầm non.

2.1. Những hạn chế trong nhận thức đạo đức nghề nghiệp

Nhiều sinh viên ngành Giáo dục Mầm non chưa nhận thức đầy đủ về đạo đức nghề nghiệp. Một số em cho rằng chỉ cần giỏi chuyên môn là đủ, chưa ý thức được vai trò của nhân cách nhà giáo. Tình trạng sinh viên thiếu tôn trọng giờ giấc, thiếu trách nhiệm trong thực tập vẫn tồn tại. Một số sinh viên không kiểm soát được cảm xúc khi gặp tình huống khó khăn với trẻ nhỏ. Việc thiếu kỹ năng giao tiếp ứng xử sư phạm cũng là vấn đề đáng lo ngại. Những hạn chế này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo giáo viên mầm non tương lai.

2.2. Nguyên nhân của những tồn tại trong giáo dục đạo đức

Nguyên nhân của thực trạng trên đến từ nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, ảnh hưởng của mặt trái kinh tế thị trường làm một số sinh viên chạy theo giá trị vật chất, thiếu động lực cống hiến. Phương pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp trong nhà trường còn nặng về thuyết giảng, thiếu phương pháp tương tác và trải nghiệm. Về chủ quan, nhiều sinh viên chưa tự rèn luyện bản thân, thiếu ý thức học hỏi từ tấm gương tốt. Gia đình chưa phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên. Sự thiếu gắn kết giữa lý thuyết và thực tiễn cũng là nguyên nhân quan trọng.

III. Giải pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên mầm non

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non đòi hỏi nhiều giải pháp đồng bộ và toàn diện. Giải pháp đầu tiên là đổi mới nội dung chương trình đào tạo, tăng cường tích hợp giáo dục đạo đức vào các môn học chuyên ngành. Phương pháp giảng dạy cần chuyển từ thuyết giảng sang các hình thức tương tác, thảo luận nhóm và phân tích tình huống thực tế. Hoạt động thực tập tại trường mầm non thực hành cần được tổ chức bài bản hơn. Sinh viên cần được hướng dẫn kỹ năng xử lý tình huống sư phạm, kỹ năng giao tiếp với trẻ và phụ huynh. Nhà trường cần xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh, tạo điều kiện cho sinh viên rèn luyện đạo đức thông qua các hoạt động đoàn thể, câu lạc bộ và công tác xã hội. Đội ngũ giảng viên phải là tấm gương mẫu mực về đạo đức nghề nghiệp. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cơ sở thực tập là yếu tố then chốt để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp.

3.1. Đổi mới phương pháp giảng dạy và nội dung đào tạo

Đổi mới phương pháp giảng dạy là giải pháp cốt lõi để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Cần áp dụng các phương pháp tích cực như đóng vai, phân tích tình huống, thảo luận nhóm và học qua trải nghiệm. Nội dung đào tạo nên bổ sung thêm các chuyên đề về đạo đức nhà giáo, quyền trẻ em và kỹ năng ứng xử sư phạm. Giáo trình cần cập nhật các ví dụ thực tiễn, phản ánh những vấn đề đạo đức nghề nghiệp đang được xã hội quan tâm. Việc đánh giá kết quả giáo dục đạo đức cũng cần đổi mới, không chỉ dựa vào điểm số mà còn qua quan sát hành vi thực tế.

3.2. Tăng cường hoạt động thực hành và trải nghiệm thực tế

Hoạt động thực hành và trải nghiệm thực tế đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành đạo đức nghề nghiệp. Trường Cao đẳng Cần Thơ cần tăng cường thời lượng thực tập tại trường mầm non thực hành. Sinh viên nên được tham gia các hoạt động tình nguyện, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Các buổi tọa đàm với giáo viên mầm non giàu kinh nghiệm giúp sinh viên học hỏi từ thực tiễn nghề nghiệp. Câu lạc bộ kỹ năng sư phạm và các hoạt động đoàn thể cũng là môi trường tốt để rèn luyện phẩm chất đạo đức. Sự phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường với cơ sở thực tập đảm bảo sinh viên được hướng dẫn và giám sát thường xuyên.

IV. Kết luận và ứng dụng trong đào tạo giáo viên mầm non

Giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trường Cao đẳng Cần Thơ là nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự nỗ lực của cả hệ thống đào tạo. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng đạo đức nghề nghiệp của giáo viên mầm non bao gồm nhiều phẩm chất cốt lõi như yêu thương trẻ, kiên nhẫn, trung thực và trách nhiệm. Thực trạng cho thấy vẫn còn nhiều hạn chế trong nhận thức và hành vi đạo đức nghề nghiệp của sinh viên. Các giải pháp đề xuất bao gồm đổi mới phương pháp giảng dạy, tăng cường hoạt động thực hành và xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh. Kết quả nghiên cứu có giá trị ứng dụng thực tiễn cao. Nhà trường có thể áp dụng các giải pháp đề xuất để nâng cao chất lượng đào tạo. Chương trình đào tạo cần được điều chỉnh để tăng cường nội dung giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Đội ngũ giảng viên cần được bồi dưỡng phương pháp giáo dục đạo đức hiệu quả. Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội là yếu tố quyết định thành công.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn của đề tài

Đề tài có giá trị lý luận trong việc hệ thống hóa cơ sở khoa học về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho giáo viên mầm non. Nghiên cứu tổng hợp các quan niệm về đạo đức, nghề nghiệp và đạo đức nghề nghiệp từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau. Giá trị thực tiễn thể hiện ở việc đề xuất các giải pháp cụ thể, khả thi cho Trường Cao đẳng Cần Thơ. Các kiến nghị được xây dựng trên cơ sở phân tích thực trạng, phù hợp với điều kiện của nhà trường. Kết quả nghiên cứu có thể tham khảo áp dụng tại các cơ sở đào tạo giáo viên mầm non khác trong cả nước.

4.2. Hướng phát triển và kiến nghị cho tương lai

Trong tương lai, công tác giáo dục đạo đức nghề nghiệp cần được đổi mới liên tục theo hướng hiện đại hóa. Nhà trường nên xây dựng bộ tiêu chí đánh giá đạo đức nghề nghiệp cụ thể cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non. Cần tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục đạo đức, sử dụng các tình huống mô phỏng và video thực tiễn. Đội ngũ giảng viên cần được đào tạo nâng cao năng lực giáo dục đạo đức nghề nghiệp. Nhà nước cần ban hành chính sách hỗ trợ, tạo cơ chế khuyến khích sinh viên gắn bó với nghề giáo viên mầm non. Sự quan tâm của toàn xã hội sẽ góp phần nâng cao vị thế và đạo đức nghề nghiệp giáo viên mầm non.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận văn thạc sĩ giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành giáo dục mầm non tại trường cao đẳng cần thơ

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chƣơng: - Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non. - Chƣơng 2: Thực trạng giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trƣờng Cao đẳng Cần Thơ. - Chƣơng 3: Đề xuất các biện pháp giáo dục đạo đức nghề nghiệp cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non tại Trƣờng Cao đẳng Cần Thơ. 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Một số nghiên cứu nước ngoài Khổng Tử (551- 479 TCN) là một trong những nhà giáo dục tiêu biểu cho nền giáo dục phong kiến Trung Hoa.

Những tƣ tƣởng giáo dục tiến bộ của Khổng Tử còn có giá trị thời đại ngày nay. Đó là: - Coi trọng việc giáo dục đạo đức trong nhân cách con ngƣời…Giáo dục lòng nhân ái và biết sống có trên dƣới, trung thực, chung thủy, có kỉ cƣơng… - Trau dồi đạo đức để ngƣời thầy luôn là tấm gƣơng sáng cho học trò noi theo. Theo Khổng Tử thì bản tính con ngƣời là thiện và giáo dục có nhiệm vụ đào tạo nên con ngƣời, đó là những ngƣời nhân nghĩa, trung chính…Lúc sinh ra mọi ngƣời đều nhƣ nhau nhƣng bằng cách tập luyện mà khác nhau. Theo ông, muốn trở thành ngƣời có đạo đức phải qua giáo dục [7, tr.

Nhƣ vậy, từ thời xa xƣa Khổng Tử đã rất xem trọng đạo đức của ngƣời thầy. Socrates ( 476 - 399 TCN) là triết gia tiên khởi và cũng là nhà giáo dục khả kính của Hy Lạp. Ông cống hiến cả cuộc đời cho lý tƣởng “thành thực” và “đức hạnh”. Ông nhận định rằng bản chất tốt đẹp của con ngƣời đƣa đến hành động chính đáng.

Tội lỗi, sai trái xuất hiện vì thiếu suy tính, kém hiểu biết [1, tr. Plato (427 - 347 TCN) là nhà giáo dục và triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại. Ông nhận định rằng, mọi ngƣời đều mƣu cầu hạnh phúc nhƣng họ đã không biết làm thế nào để thực hiện điều này. Theo ông, hạnh phúc là kết quả tất yếu của một tâm hồn lành mạnh.

Do đó, ông khuyên mọi ngƣời nên sống trong đức hạnh vì đức hạnh đem lại sự thảnh thơi cho tâm hồn. Vì vậy, vấn đề căn bản ở đây là sự hiểu biết, là kiến thức. Có kiến thức, hiểu đƣợc hạnh phúc và hiểu đƣợc đức hạnh tức là có thể mƣu cầu đƣợc hạnh phúc [1, tr. 6 John Locke (1632-1704) là nhà giáo dục, học giả ngƣời Anh.

Ông cho rằng giáo dục phải đề cập đến hai phƣơng diện là nhân cách và kiến thức. Do đó, để đạt đƣợc kết quả tốt đẹp nhất, giáo dục phải cung cấp cho học sinh những tƣ tƣởng và nhân cách thích đáng, huấn luyện đứa trẻ bằng cách quan sát và chia sẻ thói quen tốt, hành động cao đẹp để trau dồi kiến thức; chính những thói quen, hành động này là những khuôn mẫu của một con ngƣời hiểu biết, có lý trí. Trau dồi kiến thức, thực hiện thói quen tốt, hành động cao đẹp qua việc nuôi dƣỡng, hƣớng dẫn, học tập với một chƣơng trình giáo dục sáng tỏ, thiết thực. Đứa trẻ khởi sự học tập qua những hành động…[1, tr.

Immanuel Kant (1724 -1804) là triết gia nổi tiếng ngƣời Đức. Ông nhận định rằng con ngƣời chỉ có thể trƣởng thành qua giáo dục, từ chỗ vô tri trở thành tri thức. Giáo dục phải uốn nắn và rèn luyện để con ngƣời trở nên có văn hóa, đức hạnh và nhân hậu tạo dựng hạnh phúc cho nhân loại. Ông nhấn mạnh đến việc giới hạn cảm xúc nhất thời của trẻ em bằng cách giảng dạy đạo đức với những câu cách ngôn xử thế.

Đứa trẻ phải học và tự kiểm điểm để nhận biết hai điều quan trọng tự do và giới hạn [1, tr. Makarenkô (1888-1939) là nhà giáo dục Xô Viết lỗi lạc. Đối với các nhà giáo dục, ông yêu cầu rất cao, phải có những phẩm chất, năng lực làm công tác giáo dục. Ông đòi hỏi các nhà giáo dục, giáo viên phải yêu nghề, yêu trẻ, sống say sƣa, vui vẻ, phải mẫu mực trong mọi lời nói, ăn mặc, cử chỉ, có lý tƣởng, có hoài bão ƣớc mơ… Để thực sự là một nhà giáo dục, ông yêu cầu phải rèn luyện “Điều quan trọng là phải làm việc một cách có ý thức và tích cực, coi trọng nghề nghiệp”.

Phải hết sức sáng tạo, phải nhạy cảm sƣ phạm… [7, tr. Nhìn chung, những tƣ tƣởng giáo dục có từ ngàn xƣa đã giúp cho sinh viên hiểu rõ hơn về vai trò chủ đạo của giáo dục đạo đức trong sự hình thành và phát triển nhân cách cho ngƣời học. Yêu cầu đào tạo ngƣời thầy phải đủ kiến thức chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp đáp ứng nhu cầu xã hội.2 Một số nghiên cứu ở trong nước Dân tộc Việt Nam, một dân tộc có truyền thống “Tôn sƣ trọng đạo”. Từ thời phong kiến, ngƣời thầy đã có vị trí rất cao trong xã hội.

Trong bậc thang giá trị xét 7 theo cấu trúc “Quân - Sƣ - Phụ”, nhà giáo đƣợc xếp dƣới vua nhƣng trên cha mẹ. Ca dao xƣa có câu: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” Đƣợc coi trọng nhƣ vậy bởi ngƣời thầy luôn tƣợng trƣng cho sự chuẩn mực. Ngƣời thầy phải là tấm gƣơng mẫu mực cho học trò noi theo. Sự gƣơng mẫu của ngƣời thầy không phải chỉ giới hạn ở phạm vi trƣờng học mà còn ở mọi nơi, mọi lúc, trong gia đình và ngoài xã hội.

Điều đó đòi hỏi ngƣời thầy giáo phải giữ đƣợc những phẩm chất tốt đẹp của ngƣời thầy và phải đáp ứng nhu cầu ngày cao về tri thức, về kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ sƣ phạm. Ngƣời thầy còn có sứ mệnh cao quý là truyền đạo lí cho các thế hệ học trò của mình, giúp họ trở thành những con ngƣời có phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn vững vàng. Đồng chí Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý bậc nhất trong các nghề cao quý…là nghề sáng tạo bậc nhất vì nó sáng tạo những con ngƣời sáng tạo” [10, tr. Đó là những ngƣời đầy tâm huyết, trí tuệ, không quản khó khăn, gian khổ, cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp “trồng ngƣời”.

Tôn vinh ngƣời thầy đã trở thành đạo lí, thành tình cảm tự nhiên của mỗi ngƣời chúng ta. Lịch sử giáo dục vẫn còn lƣu lại tên tuổi những tấm gƣơng nhà giáo ngời sáng cả cốt cách và tâm hồn. Những con ngƣời đó đã tạo nên phẩm chất đạo đức cao đẹp của ngƣời thầy trong truyền thống. Chu Văn An (1292-1370) là một danh sĩ lỗi lạc, ông mở trƣờng dạy học tại quê nhà.

Ông nổi tiếng về tài giáo dục, môn đệ khắp nơi tìm đến thụ giáo và nhiều ngƣời đã thi đậu, làm quan lớn trong triều. Ông mất năm 1370 và đƣợc thờ trong Văn Miếu vì sự nghiệp giáo dục cũng nhƣ tài năng và đức độ [1, tr 416]. Đoàn Thị Điểm (1705-1748) là một trong rất ít nữ danh mở trƣờng dạy học, khi dạy học, bà là cô gái độc thân, còn nhỏ tuổi nhƣng đƣợc mọi ngƣời kính trọng vì tài cũng nhƣ đức [1, tr. 8 Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888), trên 30 năm hành nghề mô phạm, ông đã đem đạo thánh hiền, những điều nhân nghĩa ra truyền thụ cho các môn đệ [1, tr.

Hồ Chí Minh (1890-1969) là một nhà cách mạng kiệt xuất, một nhà giáo tiêu biểu. Ngƣời không những dạy cho học trò kiến thức văn hóa mà còn gieo vào tâm trí ngƣời học về nguồn cội, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, tình yêu quê hƣơng đất nƣớc, yêu đồng bào… Ngƣời dạy học trò đạo làm ngƣời, dạy cách sống, cách cƣ xử với mọi ngƣời. Trong bài nói chuyện tại trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội, Ngƣời nêu mục tiêu giáo dục phải đạt đƣợc là đào tạo con ngƣời phát triển toàn diện cả về tài và đức: “Dạy cũng nhƣ học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách mạng.

Đó là cái gốc, rất là quan trọng” [4, tr. Hồ Chí Minh khẳng định sự phát triển của con ngƣời là một quá trình. Con ngƣời không phải sinh ra đã đƣợc hình thành nhân cách, “hiền, dữ” không phải có ngay trong mỗi con ngƣời. Vì vậy, sự hoàn thiện con ngƣời là kết quả của cả một quá trình rèn luyện bền bỉ, gian khó [2, tr.

Đạo đức nghề nghiệp, giáo dục đạo đức nghề nghiệp luôn là vấn đề đƣợc nhiều nhà giáo dục trong và ngoài nƣớc quan tâm. Có một số công trình nghiên cứu về giáo dục đạo đức cho sinh viên nhƣ: Hai tác giả Nguyễn Kế Hào và Nguyễn Quang Uẩn trong công trình nghiên cứu “Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sƣ phạm”, tác giả Nguyễn Quang Uẩn đã dành một chƣơng để nói về “Tâm lý học nhân cách ngƣời thầy giáo” [8]. Trong đó, đã đi sâu phân tích đặc điểm của lao động sƣ phạm trên cơ sở trên đã chỉ ra các phẩm chất của ngƣời thầy giáo, đó là: - Thế giới quan khoa học; - Lí tƣởng nghề nghiệp; - Lòng tin và yêu mến học sinh, yêu nghề; - Đạo đức - lối sống. Nhƣ vậy, ngƣời thầy tác động đến học sinh không những bằng hành động trực tiếp của mình mà còn bằng sự mẫu mực, bằng thái độ và hành vi của chính 9 mình đối với thế giới xung quanh.

Để làm đƣợc điều đó, ngƣời thầy phải biết lấy các quy luật khách quan làm chuẩn mực cho mọi tác động sƣ phạm của mình, mặt khác phải có những phẩm chất đạo đức và phẩm chất ý chí cần thiết [8, tr. Nhiệm vụ học tập, nghiên cứu của sinh viên sƣ phạm rất nặng nề, đòi hỏi phải có tinh thần say sƣa, tự nguyện, tự giác với ý chí quyết tâm cao. Muốn đạt kết quả học tập tốt, đó không phải là điều đơn giản, không phải ngẫu nhiên mà có. Vì thế, khi còn ở nhà trƣờng, sinh viên cần tận dụng cơ hội để học tập, tu dƣỡng, lĩnh hội toàn bộ chƣơng trình học về chuyên môn, nghiệp vụ.

Từ đó, hình thành và phát triển nhân cách nhà giáo. Đồng thời đó là cơ sở cho sự phát triển trình độ nghề sau này. “Học chữ” - “Học làm thầy” - “Học làm ngƣời”, đó là ba nhiệm vụ cốt lõi của mỗi sinh viên. Sự kết hợp nhuần nhuyễn, đan xen nhau giữa ba nhiệm vụ ấy sẽ giúp cho sinh viên có đƣợc sự phát triển hài hòa, cân đối trong quá trình phấn đấu để trở thành ngƣời giáo viên toàn diện, mẫu mực [10, tr.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ