CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG THỦY LỢI DUY TIÊN VÀ CÔNG TRÌNH ĐẦU MỐI TIÊU TRẠM BƠM YÊN LỆNH 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA HUYỆN DUY TIÊN VÀ LƯU VỰC TIÊU YÊN LỆNH 1. Vị trí địa lý Hình 1. Bản đồ huyện Duy Tiên và vị trí trạm bơm Yên Lệnh.
5 Huyện Duy Tiên nằm ở phía Bắc tỉnh Hà Nam có diện tích tự nhiên 13.773,85 ha bằng 16,01% diện tích tự nhiên của tỉnh, nằm trong tọa độ địa lý từ 105053’26” đến 106002’43” vĩ độ Bắc và 20032’37” đến 20032’37” kinh độ Đông. Huyện Duy Tiên có 2 thị trấn và 19 xã , trong đó có 6 xã và thị trấn nằm ở phía Đông Bắc huyện gồm : Mộc Bắc, Mộc Nam, Châu Giang, Chuyên Ngoại, Trác Văn và thị trấn Hòa Mạc thuộc lưu vực tiêu của trạm bơm Yên Lệnh. Duy Tiên có tiềm năng du lịch sinh thái tự nhiên với các di tích lịch sử nổi tiếng: Đền Lảnh Giang (xã Mộc Nam), chùa Long Đọi Sơn (xã Đọi Sơn), đình Lũng Xuyên (xã Yên Bắc). Huyện có hai tuyến quốc lộ 1A và 38 chạy qua và đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ - Ninh Bình.
Vị trí địa lý của huyện thuận lợi cho liên doanh, liên kết trao đối, thu hút đầu tư cũng như lưu thông hàng hóa. Đặc điểm địa hình Xét tổng thể, địa hình của huyện Duy Tiên nói chung và lưu vực tiêu trạm bơm Yên Lệnh nói riêng tương đối bằng phẳng, dốc dần từ Bắc xuống Nam, từ sông Hồng dốc về sông Nhuệ. Vùng ven đê sông Hồng và sông Châu Giang bao gồm các xã Mộc Bắc, Mộc Nam, Châu Giang, Chuyên Ngoại, Trác Văn, Yên Nam, Đọi Sơn.có địa hình cao hơn, đặc biệt là khu vực núi Đọi, núi Điệp thuộc các xã Đọi Sơn và Yên Nam. Đặc điểm thổ nhưỡng Mặc dù hàng năm cống Mộc Nam vẫn mở để lấy phù sa đầu vụ tưới cho đất canh tác của huyện, nhưng nhìn chung đất nông nghiệp của huyện Duy Tiên nói chung và lưu vực nghiên cứu nói riêng chủ yếu là đất phù sa không được bồi.
Vùng đất bãi ven sông (nằm ngoài lưu vực tiêu của trạm bơm Yên Lệnh) chủ yếu là đất phù sa được bồi hàng năm. Là loại đất có độ phì tự nhiên không cao nhưng độ phì thực tế rất cao và thích hợp với các loại cây trồng cạn như ngô, mía, đậu đỗ và các loại rau màu khác. Đặc điểm khí tượng, khí hậu Duy Tiên và lưu vực nghiên cứu nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, thuộc tiểu khí hậu vùng đồng bằng Bắc Bộ, chịu ảnh hưởng 6 sâu sắc của gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam. Với các đặc điểm nhiệt đới gió mùa, nắng và bức xạ mặt trời lớn, thuận lợi cho phát triển một nền nông nghiệp đa dạng với nhiều loại cây trồng, vật nuôi và tạo điều kiện tốt cho thâm canh tăng vụ.
Tuy nhiên, sự biến động mạnh mẽ với nhiều hiện tượng thời tiết như dông, bão, lượng mưa tập trung theo mùa. kết hợp với địa hình thấp gây ra ngập úng cục bộ, một số vùng đòi hỏi phải có biện pháp phòng tránh kịp thời. Nhiệt độ Nhiệt độ trung bình hàng năm của huyện và vùng nghiên cứu vào khoảng 23,30C với tổng nhiệt độ trung bình bình hàng năm vào khoảng 8. Hàng năm có 8 tháng (từ tháng 4 đến tháng 11) nhiệt độ trung bình tháng trên 200C trong đó có 4 tháng trên 250C.
Tháng 7 nóng nhất có nhiệt độ trung bình trên 290C. Độ ẩm không khí Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm của huyện và vùng nghiên cứu dao động trong khoảng 84%. Sự biến đổi về độ ẩm giữa các tháng không nhiều. Ba tháng mùa xuân là thời kỳ ẩm ướt nhất, độ ẩm trung bình tháng đạt khoảng 87 ÷ 89% hoặc cao hơn.
Các tháng cuối mùa thu và đầu mùa đông là thời kỳ khô hanh nhất, độ ẩm trung bình tháng có thể xuống tới dưới 80%. Độ ẩm ngày cao nhất có thể đạt tới 98% và thấp nhất có thể xuống dưới 64%. Bốc hơi Theo số liệu thống kê nhiều năm, lượng bốc hơi bình quân năm ở Duy Tiên và vùng nghiên cứu khoảng 846 mm. Các tháng đầu mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 7) lại là các tháng có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm.
Các tháng cuối đông và mùa xuân (tháng 1 đến tháng 4) có lượng bốc hơi nhỏ nhất - là những tháng có nhiều mưa phùn và độ ẩm không khí tương đối cao. Mưa Tổng lượng mưa trung bình hàng năm của huyện và vùng nghiên cứu vào khoảng 1. Lượng mưa trong 6 tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) chỉ có 272,2 mm, chiếm 15,5 % lượng mưa năm. Số ngày mưa trung bình 7 hàng năm khoảng 130 đến 140 ngày.
Tháng 8 và tháng 9 có nhiều mưa bão nhất, lượng mưa trung bình trên dưới 300 mm. Lượng mưa lớn nhất năm ứng với các thời đoạn thường rơi vào các tháng 7, 8, 9. Các trận mưa thời đoạn ngắn thường nằm trong các trận mưa dài hơn. Số liệu tổng kết về mưa gây úng trong 20 năm gần đây cho thấy lượng mưa lớn gây úng có khả năng xuất hiện vào bất cứ thời gian nào của năm.
Thậm chí tháng 10, 11 cũng có thể xuất hiện mưa lớn gây úng, tuy mức độ nguy hiểm đối với cây trồng có thể khác nhau. Mỗi mùa mưa thường có vài trận mưa lớn gây úng với tổng lượng từ 100mm trở lên, tập trung liên tục trong vòng 3 ÷ 5 ngày. Theo các số liệu đã được tổng kết về mưa úng thì số trận mưa có tổng lượng từ 100 ÷ 200 mm chiếm tới 74% số trận mưa gây úng, số trận mưa có lượng mưa từ 200 mm trở lên trong 3 ÷ 5 ngày chiếm khoảng 26% tổng số trận mưa gây úng. Gió, bão Hướng gió thịnh hành trong mùa hè ở vùng đồng bằng Bắc Bộ nói chung và vùng nghiên cứu nói riêng là gió nam và đông nam còn mùa đông thường có gió bắc và đông bắc.
Tốc độ gió trung bình khoảng 2 ÷ 3 m/s. Các tháng từ tháng 7 đến tháng 9 có nhiều bão nhất. Các cơn bão đổ bộ vào đất liền thường gây ra mưa lớn trong vài ba ngày, gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân. Tốc độ gió lớn nhất trong bão có thể lên đến trên 40 m/s.
Mây Lượng mây trung bình năm của huyện và vùng nghiên cứu chiếm khoảng 75 % bầu trời. Tháng 3 u ám nhất có lượng mây cực đại, chiếm trên 90% bầu trời. Tháng 10 trời quang đãng nhất, lượng mây trung bình chỉ chiếm khoảng dưới 60 % bầu trời. Nắng Tổng số giờ nắng trung bình hàng năm của huyện và vùng nghiên cứu khoảng 1.
Các tháng mùa hè từ tháng 5 đến tháng 10 có nhiều nắng nhất, 8 trên dưới 200 giờ mỗi tháng. Các tháng 2, 3 trùng khớp với những tháng u ám là tháng rất ít nắng, chỉ đạt khoảng 30 ÷ 40 giờ mỗi tháng. Các hiện tượng thời tiết khác Nồm và mưa phùn là hiện tượng thời tiết khá độc đáo xảy ra vào nửa cuối mùa đông ở đồng bằng Bắc Bộ và vùng nghiên cứu. Trung bình mỗi năm có khoảng 10 ÷ 20 ngày có sương mù.
Hiện tượng này xảy ra chủ yếu vào các tháng đầu mùa đông, nhiều nhất vào tháng 11, 12. Hàng năm có từ 30 đến 40 ngày mưa phùn, tập trung nhiều nhất vào các tháng 2, 3 sau đó là các tháng cuối đông và đầu mùa xuân. Mưa phùn tuy chỉ cho lượng nước không đáng kể nhưng lại có tác dụng rất quan trọng cho sản xuất nông nghiệp vì nó duy trì được tình trạng ẩm ướt thường xuyên, giảm bớt nguy cơ hạn hán. Vào nửa đầu mùa hạ thỉnh thoảng có xuất hiện các đợt gió tây khô nóng.
Trung bình mỗi năm có khoảng dưới 10 ngày khô nóng. Lúc này độ ẩm trung bình có thể xuống dưới 60 ÷ 70 %, độ ẩm thấp nhất có thể xuống dưới 30 ÷ 40 % và làm ảnh hưởng nhiều đến sản xuất nông nghiệp. Tóm tắt một số đặc trưng khí tượng, khí hậu lưu vực tiêu Yên Lệnh. Tổng, Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB năm Nhiệt độ(0C) 16,1 16,9 19,9 23,5 27,1 28,6 29,1 28,3 27,0 24,5 21,2 17,8 23,3 Độ ẩm (%) 84 86 89 89 84 82 84 85 86 84 82 82 84 Bốc hơi (mm) 59,1 44,0 43,2 52,8 84,3 90,3 102,0 74,2 68,5 78,3 76,2 72,9 845,6 Mưa(mm) 21,9 24,5 45,9 82,5 174,6 237,9 228,0 295,8 312,1 235,3 67,4 30,0 1755,9 1.
Sông ngòi và đặc điểm thủy văn - Sông Hồng: có lượng nước khá dồi dào là nguồn cung cấp nước chính cho tỉnh Hà Nam qua Sông Nhuệ và các trạm bơm, cống ven sông. Chiều dài sông chảy qua huyện là 12 km tạo thành ranh giới tự nhiên giữa 6 xã vùng tiêu Yên Lênh (huyện Duy Tiên) với tỉnh Hưng Yên. Hàng năm sông bồi đắp một lượng phù sa 9 tươi tốt cho diện tích đất ngoài đê bối và cho đồng ruộng qua cống lấy nước tưới Mộc Nam dưới đê Sông Hồng. - Sông Nhuệ: là trục tưới tiêu kết hợp của hệ thống thủy lợi sông Nhuệ trong đó có huyện Duy Tiên.
Sông Nhuệ nối liền với Sông Hồng qua cống Liên Mạc, với Sông Đáy qua cống Lương Cổ, dài 74km, đoạn chảy qua huyện Duy Tiên dài 13km. Cống Liên Mạc về mùa kiệt thường xuyên mở cửa để lấy nước Sông Hồng vào sông Nhuệ, còn về mùa lũ chỉ mở khi mực nước Sông Hồng ở mức dưới báo động cấp I và trong đồng có nhu cầu cấp nước. Cống Lương Cổ về mùa lũ luôn mở để tiêu nước và chỉ đóng lại khi có phân lũ qua Đập Đáy. Trong quá trình tiêu úng, mực nước Sông Nhuệ và các sông nhánh khác trong hệ thống luôn luôn chịu ảnh hưởng trực tiếp của mực nước lũ Sông Đáy.
Nước Sông Nhuệ bị ô nhiễm cực kỳ nghiêm trọng. Nguồn gây ô nhiễm chủ yếu do nước thải của các nhà máy, các cơ sở sản xuất và dân cư trong nội thành Hà Nội, các khu công nghiệp, các làng nghề của Hà Nội và Hà Nam đổ trực tiếp vào Sông Nhuệ. Những năm gần đây khi mực nước Sông Hồng xuống thấp không chỉ gây ra thiếu nước tưới mà còn không đủ lượng nước pha loãng làm cho mực nước trong sông ô nhiễm càng trầm trọng hơn. - Sông Duy Tiên: là trục tiêu tiêu kết hợp chính của huyện Duy Tiên, là biên giới phía Tây Nam của vùng nghiên cứu với các vùng khác trong huyện.
Sông dài 21km bắt đầu từ K57+850 trên bờ tả Sông Nhuệ đổ ra Sông Đáy qua Sông Châu Giang.