PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, hơn một nửa dân số thế giới là phụ nữ và phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong đời sống gia đình và xã hội. Nhƣng bất chấp thực tế này, trong nhiều nền văn hoá và ở nhiều nơi, phụ nữ không những không đƣợc đánh giá và đối xử đúng với năng lực và vị trí thực tế của mình, mà còn là đối tƣợng của những định kiến tiêu cực, nặng nề và chịu sự phân biệt trong đối xử. Có thể thấy rằng một trong những rào cản lớn của bình đẳng giới là định kiến giới.
Bình đẳng giới sẽ không thực chất, không thành công nếu định kiến giới vẫn tồn tại. Việt Nam đƣợc đánh giá là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong 20 năm qua và đƣợc xếp ở nhóm các quốc gia có bình đẳng giới tốt nhất trên thế giới năm 2016. Tình trạng bất bình đẳng giới ở Việt Nam đƣợc cải thiện nhanh thể hiện ở các chỉ số phát triển giới (GDI), chỉ số khoảng cách giới (GGI) và chỉ số bất bình đẳng giới (GII) đều ở mức khá tốt. Theo báo cáo phát triển con ngƣời năm 2016, chỉ số GII của Việt Nam là 0,337, xếp thứ 71/188 quốc gia; chỉ số GGI là 0,700 xếp thứ 65/183 quốc gia và chỉ số GDI là 1,010 thuộc nhóm 1 trong 5 nhóm (188 quốc gia) xếp hạng về bình đẳng giới trong giá trị chỉ số phát triển con ngƣời.
Mặc dù đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng song Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức về bình đẳng giới. Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý và lãnh đạo ở các cấp vẫn còn thấp; trình độ chuyên môn kỹ thuật của nữ vẫn thấp hơn nam giới 5 điểm phần trăm; lao động nữ có thu nhập bình quân thấp hơn nam giới khoảng 10%; lao động nữ là đối tƣợng dễ bị rủi ro và tổn thƣơng hơn khi doanh nghiệp có nhu cầu cắt giảm nhân công… Có tới 98% số doanh nghiệp do nữ làm chủ đƣợc nêu trên có quy mô vừa, nhỏ và siêu nhỏ, tập trung vào lĩnh vực thƣơng mại, lợi nhuận thấp. Nữ chủ doanh 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp còn nhiều hạn chế về trình độ chuyên môn, kỹ năng quản trị doanh nghiệp và gặp khó khăn trong tiếp cận các nguồn tín dụng chính thức. Ngoài ra, phụ nữ còn gặp phải những vấn đề khác nhƣ bạo lực gia đình, là nạn nhân của buôn bán ngƣời, bóc lột lao động, xâm hại tình dục.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay đƣợc xác định là những định kiến về giá trị và cách suy nghĩ truyền thống của xã hội về cách ứng xử và vai trò của nam giới và phụ nữ. Những suy nghĩ, định kiến này đang cản trở những tiềm năng phát triển của cả nam giới và phụ nữ. Có thể thấy rằng mọi nỗ lực nhằm thu hẹp khoảng cách của bất bình đẳng giới sẽ không đƣợc thực thi bền vững nếu những thế hệ tiếp nối và toàn xã hội vẫn đƣợc giáo dục theo những định kiến giới truyền thống về vai trò của nam và nữ. Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong định hƣớng dƣ luận xã hội, đặc biệt là góp phần nâng cao nhận thức về bình đẳng và công bằng giới.
Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và duy trì các khuôn mẫu, chuẩn mực mới cũng nhƣ góp phần dần dần loại bỏ những khuôn mẫu và chuẩn mực cũ không còn phù hợp. Do đó, để thu hẹp khoảng cách giới và tiến tới xây dựng một xã hội phát triển bền vững, hài hòa cho cả hai giới thì việc rà soát các thông điệp truyền thông, dần loại bỏ những thông điệp mang nặng tính định kiến về nữ giới và duy trì các thông điệp không mang tính định kiến về nữ giới là rất cần thiết. Nghị quyết số 11-NQ/TƢ ngày 27-4-2007 của Bộ chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc cũng đã nêu rõ: “Các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, các đoàn thể, tổ chức xã hội, cơ quan thông tin đại chúng tăng cường tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức về giới và ý thức trách nhiệm thực hiện bình đẳng giới cho cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân, lên án, đấu tranh chống tư tưởng coi thường phụ nữ, các hành vi phân biệt đối xử, xâm hại, xúc phạm nhân phẩm 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phụ nữ. Đưa nội dung giáo dục về Giới, Luật bình đẳng giới vào chương trình đào tạo, bồi dưỡng trong các trường chính trị và các trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân”.
Bên cạnh đó chiến lƣợc quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 nêu rõ mục tiêu đến năm 2015 giảm 60% và đến năm 2020 giảm 80 % sản phẩm văn hóa, thông tin mang định kiến giới; tăng cƣờng thời lƣợng phát sóng các chƣơng trình, chuyên mục và số lƣợng các sảm phẩm tuyên truyền, giáo dục về bình đẳng giới. Thời gian qua, báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng đã có nhiều thành tựu trong tuyên truyền về bình đẳng giới. Tuy nhiên, thực tế hiện nay hình ảnh ngƣời phụ nữ trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng chƣa đƣợc khai thác đúng mức hoặc mô tả chƣa bao quát, thiếu xác thực so với hình ảnh hiện đại của nữ giới. Theo các báo cáo của Nhóm quan sát giới CSAGA (Trung tâm Tƣ vấn và Thông tin tƣ liệu về bạo lực giới) và tổ chức OXFARM tại Việt Nam cũng nhận định rằng truyền thông hiện nay đang thiếu nhạy cảm giới.
Các thông điệp truyền thông trên báo chí vẫn chƣa phản ánh công bằng và cân bằng diện mạo ngƣời phụ nữ trong các hoạt động kinh tế - chính trị - xã hội. Cho tới khi các sản phẩm truyền thông có nhạy cảm giới và không còn định kiến giới, khuôn mẫu giới thì công tác tuyên truyền bình đẳng giới mới thực sự tạo ra sự thay đổi bền vững. Và để chỉ ra mức độ của định kiến về nữ giới trong những thông điệp báo chí có chứa đựng hình ảnh nữ, tôi lựa chọn đề tài “Định kiến về nữ giới trên báo điện tử Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Việc nghiên cứu sản phẩm truyền thông nhạy cảm giới, rà soát hay tìm ra những khuôn mẫu giới, định kiến giới trong các sản phẩm truyền thông là hƣớng nghiên cứu đã có sự quan tâm trên thế giới cũng nhƣ Việt Nam.
Trên phạm vi thế giới có dự án giám sát truyền thông toàn cầu “Who 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com makes the news” do WACC (mạng lƣới các nhà truyền thông tìm kiếm công bằng xã hội thông qua các quyền truyền thông). Dự án này nghiên cứu, tập trung phân tích những vấn đề, xu hƣớng thể hiện hình ảnh phụ nữ và nam giới, xem xét số lƣợng, tần xuất, khuôn mẫu giới, định kiến giới trong nội dung sản phẩm truyền thông, vấn đề quan điểm nhận thức, tiếng nói, sự hiện diện của nam và nữ, hình ảnh bạo lực trên truyền thông…Những kết quả đƣợc sử dụng làm công cụ để vận động, giám sát giới trên truyền thông cung cấp tƣ liệu, tri thức để xây dựng chƣơng trình truyền thông nhằm mục tiêu nâng cao nhận thức giới. Các kết quả nghiên cứu này đều cho thấy khuôn mẫu giới, định kiến giới là phổ biến trong các sản phẩm truyền thông trên thế giới. Đây là những rà soát chung toàn cầu nên chỉ dừng lại ở một số dấu hiệu chung, chƣa đi sâu nghiên cứu từng loại hình phƣơng tiện hoặc từng chƣơng trình hay loại chƣơng trình chuyên biệt cụ thể.
Ở Việt Nam, vấn đề bình quyền nam nữ đƣợc quan tâm sớm nhƣng những nghiên cứu khoa học về vấn đề bình đẳng giới cũng nhƣ rà soát các sản phẩm truyền thông nhạy cảm giới lại không phải là chủ đề đƣợc quan tâm sớm. Những nghiên cứu bình đẳng giới và các sản phẩm truyền thông mới thực sự đƣợc quan tâm từ cuối những năm 1990. * Nhóm các nghiên cứu liên quan đến bình đẳng giới: Theo “Báo cáo phân tích đối tượng truyền thông và chiến dịch truyền thông vì sự bình đẳng giới” (2001) đã chỉ ra: hình ảnh nam và nữ có xu hƣớng thiên lệch về hình ảnh, quảng cáo trên báo chí. Hình ảnh gây ấn tƣợng cho ngƣời tiêu dùng nhiều nhất là hình ảnh ngƣời phụ nữ, ở độ tuổi 20-30.
Hình ảnh xuất phát của nữ trong các quảng cáo không phải là trong vai trò hoạt động bên ngoài xã hội nhƣ giám đốc, bác sỹ, giảng viên mà thay vào đó, họ luôn xuất hiện là những ngƣời nội trợ thuần túy và chỉ với các sản phẩm phục vụ cho công việc nội trợ. Ngƣợc lại, nam giới xuất hiện trong quảng cáo có vai trò ngoài 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xã hội đa dạng hơn, nhƣ giám đốc, chuyên gia, nhân viên văn phòng. Các nhà sản xuất quảng cáo lạm dụng quá nhiều hình ảnh phụ nữ khêu gợi dƣới dạng này hay dạng khác để quảng bá cho sản phẩm. Nhân vật chính trong chƣơng trình quảng cáo là nữ chiếm tỷ lệ cao hơn nam.
Có tới 82% là hình ảnh các cô gái trẻ (Nguyễn Quý Thanh, 2004, Vũ Thị Gái, 2003). Ngoài ra, hình ảnh phụ nữ còn bị lạm dụng thể hiện ở chỗ họ thƣờng bị cột chặt với quan niệm vai trò truyền thống nhƣ công việc nấu ăn, giặt giũ, quét dọn nhà cửa. Số lƣợng trang quảng cáo thƣờng là 1/3 đến 2/3 trang báo thƣờng nhật và các chƣơng trình quảng cáo thƣờng xuyên trên VTV1 và VTV3 khoảng từ 3 đến 10 phút xen giữa các chƣơng trình chính. Hằng ngày, 60 % thời lƣợng quảng cáo sử dụng hình ảnh ngƣời phụ nữ và 99 % chƣơng trình quảng cáo về thiết bị gia đình, thực phẩm, trang điểm.sử dụng hình ảnh ngƣời phụ nữ.
Những hình ảnh này mang định kiến giới (Báo cáo 10 năm thực hiện cương lĩnh Bắc Kinh ở Việt Nam của tổ chức phi chính phủ, 2005). Luận văn thạc sĩ “Tuyên truyền về bình đẳng giới trong chuyên mục Phụ nữ với cuộc sống trên sóng Đài truyền hình Việt Nam” của tác giả Úy Thị Thu Huyền. Luận văn đã khảo sát chuyên mục Phụ nữ với cuộc sống trên sóng Đài truyền hình Việt Nam từ tháng 1/2004 đến tháng 4/2006. Luận văn đã nêu lên nội dung các tác phẩm: những ƣu, nhƣợc điểm của chuyên mục trong việc tuyên truyền bình đẳng giới trong chuyên mục Phụ nữ với cuộc sống.
Từ đó, tác giả đề ra một số giải pháp để tuyên truyền về bình đẳng giới.