Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam được đánh giá là quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong 20 năm qua và được xếp ở nhóm các quốc gia có bình đẳng giới tốt nhất trên thế giới năm 2016. Theo báo cáo phát triển con người năm 2016, chỉ số GII của Việt Nam là 0,337, xếp thứ 71/188 quốc gia; chỉ số GGI là 0,700 xếp thứ 65/183 quốc gia và chỉ số GDI là 1,010 thuộc nhóm 1 trong 5 nhóm xếp hạng về bình đẳng giới. Mặc dù đạt được nhiều thành tựu quan trọng, Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều thách thức về bình đẳng giới. Sự tham gia của phụ nữ trong quản lý và lãnh đạo ở các cấp vẫn còn thấp; trình độ chuyên môn kỹ thuật của nữ vẫn thấp hơn nam giới khoảng 5 điểm phần trăm; lao động nữ có thu nhập bình quân thấp hơn nam giới khoảng 10%. Một trong những nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới hiện nay được xác định là những định kiến về giá trị và cách suy nghĩ truyền thống của xã hội về vai trò của nam giới và phụ nữ. Truyền thông đại chúng đóng vai trò quan trọng trong định hướng dư luận xã hội, đặc biệt là góp phần nâng cao nhận thức về bình đẳng và công bằng giới. Do đó, việc nghiên cứu định kiến về nữ giới trên báo điện tử Việt Nam hiện nay là cần thiết để góp phần thực hiện bình đẳng giới trong xã hội. Luận văn này được thực hiện trong năm 2018 và 5 tháng đầu năm 2019 trên ba báo điện tử có lượng độc giả đông đảo là Phunuvietnam.vn, Giadinh.vn và Tienphong.vn. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp những kiến nghị cụ thể giúp giảm thiểu định kiến giới trong truyền thông, góp phần thay đổi nhận thức xã hội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nhiều lý thuyết quan trọng để phân tích định kiến về nữ giới trên báo điện tử. Lý thuyết đóng khung của Erving Goffman (1974) cho rằng quá trình đóng khung chủ yếu liên quan tới việc lựa chọn và làm nổi bật thông tin về sự kiện và vấn đề thời sự. Ứng dụng vào đề tài, nếu nhà báo có sẵn định kiến đối với nữ giới hoặc không nhận thức được đó là định kiến giới thì khi viết bài sẽ đưa vào những yếu tố đó, vô tình truyền đi thông điệp định kiến nữ cho công chúng. Lý thuyết xung đột xem báo chí là vũ khí đấu tranh giai cấp, nơi truyền thông đại chúng phản ánh và thậm chí còn làm trầm trọng thêm những phân tầng trong xã hội, bao gồm cả sự phân tầng trên cơ sở giới tính. Theo chức năng gác cổng, việc kiểm soát các thông tin trên báo điện tử do các cơ quan quản lý báo chí và cơ quan báo chí quyết định, do đó giải pháp giảm định kiến cần nhắm vào các cơ quan này. Lý thuyết chức năng xem xã hội là một tổng thể có nhiều bộ phận liên quan đến nhau, trong đó truyền thông thực hiện các chức năng như sản xuất thông tin, kiểm soát môi trường xã hội, liên kết các bộ phận của xã hội, truyền lại di sản xã hội và giải trí. Cuối cùng, lý thuyết nữ quyền cho rằng hình ảnh phụ nữ xuất hiện trên truyền thông đại chúng có thể thấp hơn so với nam giới, với nam giới được xem là chuẩn mực văn hóa của xã hội, còn phụ nữ thì không quan trọng bằng. Các khái niệm chính được sử dụng trong nghiên cứu bao gồm: giới (những đặc điểm, vị trí, vai trò trong xã hội hoặc sự kỳ vọng của xã hội đối với nam và nữ), định kiến (những nhận định tiêu cực đã tồn tại sẵn có về một sự vật, hiện tượng hoặc nhóm xã hội), định kiến giới (những suy nghĩ, nhận thức, quan điểm có sẵn của xã hội phản ánh không đúng về đặc điểm, vị trí, vai trò, năng lực của nam và nữ), và báo điện tử (loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng).

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước về báo chí truyền thông, giới và vấn đề bình đẳng giới. Về phương pháp cụ thể, nghiên cứu áp dụng phương pháp phân tích tài liệu thông qua việc tập hợp các tài liệu về báo chí – truyền thông và các ngành khoa học khác có liên quan đến đề tài. Phương pháp khảo sát, tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh được sử dụng thông qua việc khảo sát 397 mẫu đề cập đến nữ giới trực tiếp hoặc gián tiếp có mang định kiến về nữ giới trên ba báo điện tử Phunuvietnam.vn, Giadinh.vn và Tienphong.vn trong năm 2018 và 5 tháng đầu năm 2019. Phương pháp chọn mẫu là chọn có chủ đích dựa trên tiêu chí các báo có nhiều nội dung trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến vấn đề giới, bình đẳng giới và có lượng độc giả đông đảo, đa dạng về lứa tuổi, ngành nghề, giới tính. Nghiên cứu cũng sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với một số biên tập viên, phóng viên đang làm việc tại các cơ quan báo chí. Timeline nghiên cứu được thực hiện trong khoảng 18 tháng, từ tháng 6/2018 đến tháng 11/2019, trong đó 6 tháng đầu dành cho nghiên cứu lý thuyết, 9 tháng tiếp theo khảo sát thực địa và 3 tháng cuối cùng phân tích dữ liệu và hoàn thiện luận văn. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích định lượng và định tính kết hợp là để có cái nhìn toàn diện cả về số liệu lẫn bản chất của vấn đề định kiến giới trên báo điện tử.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 397 mẫu bài viết cho thấy số lượng bài có định kiến về nữ giới trên báo điện tử Phụ nữ Việt Nam là ít nhất và trên báo điện tử Tiền Phong là nhiều nhất. Điều này cho thấy ngay cả báo dành cho phụ nữ vẫn tồn tại những bài viết mang định kiến về nữ giới, mặc dù tỷ lệ thấp hơn các báo khác. Về nghề nghiệp của nhân vật nữ trong các bài viết, nghiên cứu phát hiện 85% là người nổi tiếng (người mẫu, diễn viên, ca sĩ), 10% là nội trợ, 4% là chính trị gia và 1% là các nghề khác. Điều này chứng tỏ người nổi tiếng nữ đang chịu sự định kiến nhiều nhất trên báo điện tử. Về đặc điểm tính cách nhân vật nữ, 92% các bài viết không đề cập hoặc đề cập mơ hồ đến tính cách, chỉ 3% nhấn mạnh sự dịu dàng, đảm đang, 3% đề cập trí tuệ, năng động và 2% nhấn mạnh đức tính "giỏi việc nước, đảm việc nhà". Điều này cho thấy báo điện tử đang tập trung vào hình thức bên ngoài của người phụ nữ hơn là năng lực và tính cách. Về không gian xuất hiện của người nữ trong các bài viết, 94% không đề cập hoặc đề cập đến không gian gia đình, chỉ 4% đề cập không gian công sở và 2% là các không gian khác. Điều này cho thấy hình ảnh người phụ nữ trên báo điện tử vẫn bị gắn chặt với vai trò trong gia đình hơn là trong xã hội. Một phát hiện quan trọng khác là việc báo chí thường ca ngợi người phụ nữ vừa thành công trong sự nghiệp vừa hoàn thành tốt vai trò gia đình, tạo ra áp lực kép cho phụ nữ. Trong khi đó, nam giới thành công thường chỉ được đánh giá qua sự nghiệp mà không bị đặt ra yêu cầu tương tự về vai trò gia đình. Nghiên cứu cũng phát hiện có những bài viết sử dụng ngôn ngữ mang tính định kiến như "dại khờ", "ngu" để nói về phụ nữ trong tình yêu, hoặc so sánh phụ nữ kém lý trí và tỉnh táo hơn đàn ông, góp phần củng cố định kiến giới trong xã hội.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu cho thấy định kiến về nữ giới trên báo điện tử Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại phổ biến, mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong thúc đẩy bình đẳng giới. Nguyên nhân của tình trạng này có thể đến từ nhiều yếu tố. Thứ nhất, nhu cầu của công chúng quan tâm nhiều đến các bài viết liên quan đến người nổi tiếng và những câu chuyện xung quanh họ, đặc biệt là các sao nữ, khiến các bài viết về chủ đề này được khai thác quá mức. Thứ hai, việc thiếu chiến lược và kế hoạch truyền thông về giới và bình đẳng giới tại các cơ quan báo chí (trừ Báo Phụ nữ Việt Nam) khiến việc truyền thông về bình đẳng giới chưa được ưu tiên. Thứ ba, tư duy truyền thống về vai trò của người phụ nữ vẫn tồn tại trong xã hội và cả trong đội ngũ những người làm báo, dẫn đến việc vô tình củng cố các định kiến giới trong các bài viết. So sánh với một nghiên cứu gần đây về hình ảnh phụ nữ trên truyền hình, kết quả này cho thấy báo điện tử có mức độ định kiến giới tương tự, nhưng với những biểu hiện riêng biệt do đặc thù của loại hình báo chí này. Trong khi truyền hình thường tập trung vào hình ảnh người phụ nữ trong quảng cáo và các chương trình giải trí, báo điện tử lại tập trung vào người nổi tiếng và đời sống gia đình. Ý nghĩa của những phát hiện này là rất quan trọng. Báo điện tử với tốc độ lan truyền thông tin nhanh chóng và phạm vi tiếp cận rộng lớn có thể góp phần củng cố hoặc thay đổi định kiến giới trong xã hội. Do đó, việc nhận diện và thay đổi cách thức truyền thông về nữ giới trên báo điện tử là cần thiết để thúc đẩy bình đẳng giới. Các số liệu thu thập được có thể được trình bày qua biểu đồ tròn để thể hiện tỷ lệ nghề nghiệp của nhân vật nữ trong các bài viết, biểu đồ cột để so sánh tỷ lệ bài viết có định kiến giới trên các báo điện tử khác nhau, và bảng thống kê để phân loại các dạng định kiến giới phổ biến.

Đề xuất và khuyến nghị

Để cải thiện tình trạng định kiến về nữ giới trên báo điện tử Việt Nam, nghiên cứu đề xuất các giải pháp cụ thể sau:

  1. Xây dựng và triển khai Bộ quy tắc ứng xử về bình đẳng giới trong các cơ quan báo chí. Các cơ quan quản lý báo chí cần ban hành và yêu cầu các tòa soạn xây dựng bộ quy tắc ứng xử về bình đẳng giới, trong đó quy định rõ các nguyên tắc và tiêu chí trong việc phản ánh hình ảnh người phụ nữ trên báo chí. Mục tiêu là đến năm 2025, 100% các cơ quan báo điện tử có bộ quy tắc này và 80% phóng viên, biên tập viên được tập huấn về bộ quy tắc. Chủ thể thực hiện là Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan báo chí.

  2. Tăng cường đào tạo về nhạy cảm giới cho đội ngũ làm báo. Các cơ quan báo chí cần tổ chức các khóa đào tạo, tập huấn về bình đẳng giới và nhạy cảm giới trong truyền thông cho phóng viên, biên tập viên, đặc biệt là những người viết về chủ đề phụ nữ, gia đình. Mục tiêu là đến năm 2023, 100% phóng viên, biên tập viên của các báo điện tử được tham gia ít nhất một khóa đào tạo về bình đẳng giới. Chủ thể thực hiện là các cơ quan báo chí phối hợp với các tổ chức chuyên về giới.

  3. Đa dạng hóa hình ảnh người phụ nữ trên báo điện tử. Các cơ quan báo chí cần chủ động đa dạng hóa hình ảnh người phụ nữ, tăng cường khai thác những câu chuyện về phụ nữ thành công trong các lĩnh vực khoa học, kinh tế, chính trị, kỹ thuật thay vì chỉ tập trung vào người nổi tiếng, nghệ sĩ. Mục tiêu là tăng tỷ lệ bài viết về phụ nữ trong các lĩnh vực phi truyền thống lên ít nhất 30% tổng số bài viết về phụ nữ. Chủ thể thực hiện là các cơ quan báo chí và đội ngũ phóng viên.

  4. Xây dựng cơ chế giám sát và phản biện về định kiến giới trên báo điện tử. Cần xây dựng cơ chế giám sát xã hội về định kiến giới trên báo điện tử, bao gồm việc thành lập các nhóm giám sát độc lập, tổ chức các diễn đàn đối thoại giữa cơ quan báo chí và công chúng về vấn đề giới. Mục tiêu là đến năm 2024, có ít nhất 10 nhóm giám sát độc lập hoạt động thường xuyên và 80% các báo điện tử có kênh tiếp nhận phản ánh của công chúng về vấn đề giới. Chủ thể thực hiện là các tổ chức xã hội và cơ quan báo chí.

  5. Nâng cao nhận thức của công chúng về bình đẳng giới. Cần tăng cường các chiến dịch truyền thông nâng cao nhận thức của công chúng về bình đẳng giới, giúp công chúng nhận biết và phản đối các thông tin mang định kiến giới. Mục tiêu là đến năm 2025, 70% dân số nhận thức được về các định kiến giới phổ biến và tác động của chúng. Chủ thể thực hiện là các cơ quan truyền thông, tổ chức xã hội và cộng đồng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn này là nguồn tài liệu tham khảo giá trị cho nhiều nhóm đối tượng khác nhau. Đối với các nhà quản lý báo chí, luận văn cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng định kiến giới trên báo điện tử, từ đó có những định hướng chính sách phù hợp để giảm thiểu định kiến giới trong truyền thông. Các nhà quản lý có thể sử dụng kết quả nghiên cứu để xây dựng các quy định, hướng dẫn cho các cơ quan báo chí. Đối với các cơ quan báo chí và đội ngũ làm báo, luận văn cung cấp những phân tích cụ thể về các biểu hiện của định kiến giới trong sản xuất báo chí, giúp họ nhận thức và thay đổi cách thức tác nghiệp. Các phóng viên, biên tập viên có thể áp dụng các kiến thức về nhạy cảm giới vào công việc hàng ngày, từ đó tạo ra những sản phẩm báo chí không định kiến giới. Đối với các nhà nghiên cứu về giới và truyền thông, luận văn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ giữa truyền thông và định kiến giới trong bối cảnh Việt Nam. Các nhà nghiên cứu có thể phát triển thêm các hướng nghiên cứu mới dựa trên kết quả và phương pháp luận của luận văn. Đối với các tổ chức hoạt động vì bình đẳng giới, luận văn cung cấp những bằng chứng cụ thể về vai trò của truyền thông trong việc củng cố hoặc thay đổi định kiến giới, từ đó có những chiến lược can thiệp hiệu quả. Các tổ chức này có thể hợp tác với các cơ quan báo chí để thực hiện các dự án nâng cao năng lực về bình đẳng giới trong truyền thông.

Câu hỏi thường gặp

  1. Định kiến giới trên báo điện tử biểu hiện như thế nào? Định kiến giới trên báo điện tử biểu hiện qua nhiều hình thức như tập trung vào vẻ đẹp hình thể của người phụ nữ, gắn người phụ nữ với không gian gia đình hơn là công sở, khắc họa người phụ nữ với những đức tính truyền thống như dịu dàng, đảm đang, và sử dụng ngôn ngữ mang tính định kiến. Trong nghiên cứu, 85% bài viết về người nổi tiếng nữ tập trung vào ngoại hình và đời tư, 94% bài viết gắn người phụ nữ với không gian gia đình, và nhiều bài viết sử dụng những từ ngữ như "dại khờ", "ngu" để nói về phụ nữ.

  2. Tại sao báo điện tử lại duy trì định kiến về nữ giới? Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, bao gồm: nhu cầu của công chúng quan tâm đến các câu chuyện về người nổi tiếng và đời tư của họ, sự thiếu chiến lược truyền thông về giới tại các cơ quan báo chí, tư duy truyền thống về vai trò của người phụ nữ vẫn tồn tại trong xã hội và cả trong đội ngũ những người làm báo, và việc thiếu nhận thức về nhạy cảm giới trong quá trình sản xuất tin bài.

  3. Định kiến giới trên báo điện tử ảnh hưởng như thế nào đến xã hội? Định kiến giới trên báo điện tử có tác động mạnh mẽ đến nhận thức và hành vi của công chúng. Nó củng cố các khuôn mẫu giới có hại, giới hạn cơ hội phát triển của phụ nữ, và duy trì bất bình đẳng giới trong xã hội. Đặc biệt, với giới trẻ, việc tiếp xúc thường xuyên với các thông tin định kiến giới có thể hình thành quan niệm sai lệch về vai trò và năng lực của phụ nữ, từ đó ảnh hưởng đến lựa chọn nghề nghiệp và lối sống của họ.

  4. Làm thế nào để nhận biết một bài báo có chứa định kiến giới? Một bài báo có chứa định kiến giới thường có các dấu hiệu như: tập trung quá mức vào ngoại hình của người phụ nữ, gắn người phụ nữ với vai trò gia đình mà không đề cập đến vai trò xã hội, sử dụng ngôn ngữ mang tính định kiến hoặc quy chụp, khắc họa người phụ nữ với những đức tính được xã hội quy định mà không đề cập đến sự đa dạng của tính cách con người, và thiếu sự cân bằng trong cách trình bày về nam và nữ trong các tình huống tương tự.

  5. Giải pháp nào giúp giảm thiểu định kiến giới trên báo điện tử? Các giải pháp giúp giảm thiểu định kiến giới trên báo điện tử bao gồm: xây dựng bộ quy tắc ứng xử về bình đẳng giới trong các cơ quan báo chí, tăng cường đào tạo về nhạy cảm giới cho đội ngũ làm báo, đa dạng hóa hình ảnh người phụ nữ trên báo điện tử, xây dựng cơ chế giám sát và phản biện về định kiến giới, và nâng cao nhận thức của công chúng về bình đẳng giới. Các giải pháp này cần sự phối hợp đồng bộ giữa cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan báo chí, đội ngũ làm báo và công chúng.

Kết luận

  • Định kiến về nữ giới trên báo điện tử Việt Nam hiện nay vẫn tồn tại phổ biến, biểu hiện qua việc tập trung vào người nổi tiếng nữ (85%), gắn người phụ nữ với không gian gia đình (94%), và sử dụng ngôn ngữ mang tính định kiến.
  • Các báo điện tử được khảo sát có tỷ lệ bài viết mang định kiến giới khác nhau, trong đó báo Phụ nữ Việt Nam có tỷ lệ thấp nhất, cho thấy ngay cả báo dành cho phụ nữ vẫn tồn tại những bài viết mang định kiến.
  • Nguyên nhân chính của định kiến giới trên báo điện tử bao gồm nhu cầu của công chúng, sự thiếu chiến lược truyền thông về giới tại các cơ quan báo chí, và tư duy truyền thống về vai trò của người phụ nữ.
  • Các giải pháp đề xuất bao gồm xây dựng bộ quy tắc ứng xử về bình đẳng giới, tăng cường đào tạo về nhạy cảm giới, đa dạng hóa hình ảnh người phụ nữ, xây dựng cơ chế giám sát và phản biện, và nâng cao nhận thức của công chúng.
  • Trong thời gian tới, cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về tác động của định kiến giới trên báo điện tử đến nhận thức và hành vi của công chúng, đặc biệt là giới trẻ, để có những giải pháp can thiệp hiệu quả hơn.