phần Mở đầu (9 trang), Kết luận (2 trang), Tài liệu tham khảo (2 trang) và Phụ lục (21 trang), luận văn gồm có 2 chƣơng: Ch ơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn dạy học môn Mĩ thuật theo định hƣớng phát triển năng lực của ngƣời học (17 trang). Ch ơng 2: Biện pháp dạy học Mĩ thuật theo định hƣớng phát triển năng lực của ngƣời học và thực nghiệm sƣ phạm (19 trang). Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN DẠY HỌC MÔN MĨ THUẬT THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CỦA NGƢỜI HỌC 1. Cơ sở lý luận của dạy học Mĩ thuật theo định hƣớng phát triển năng lực của ngƣời học: 1.
Các khái ni m công cụ: 1. D y h Mĩ thuật: MT là ngành NT nghiên cứu quy luật và PP để thực hiện cái đẹp b ng đƣờng nét, màu sắc, hình khối. DH MT ở trƣờng phổ thông là cung cấp cho HS một số kiến thức cơ bản về MT, phát triển khả năng tƣ duy sáng tạo cho HS, giúp cho HS cảm nhận đƣợc cái đẹp, tập tạo ra cái đẹp và vận dụng hiểu biết về cái đẹp vào học tập, sinh hoạt hàng ngày cũng nhƣ cho công việc mai sau. DH MT ở trƣờng phổ thông lấy GD thẩm mĩ cho học HS làm mục đích chính, tạo điều kiện cho HS tiếp xúc và làm quen với NT thị giác, không phải là dạy kĩ thuật để HS làm đƣợc cái này hay cái kia một cách chính xác nhƣ khuôn mẫu, không phải là dạy HS bắt chƣớc giống thầy, đúng nhƣ thầy - mà, trƣớc tiên phải là GD thẩm mĩ cho trẻ, cung cấp cho các em những hiểu biết về cái đẹp của cuộc sống, trên cơ sở đó dạy cho trẻ những cách làm sáng tạo, tạo ra cái đẹp b ng khả năng và sự hứng thú bởi chính mình [4], [21], [29].
DH MT giúp cho tình cảm, tâm hồn của trẻ thêm đẹp, thêm phong phú và tinh tế, góp phần hoàn thiện nhân cách cho các em. Đây chính là cơ sở vững chắc để vun đắp cho tài năng sáng tạo của trẻ đƣợc vƣơn lên [19], [20], [28]. H sinh Trung h ơ sở: THCS là một cấp học trong hệ thống GD phổ thông 3 cấp, gồm các lớp 6,7,8,9 [25]. HS THCS là những em có độ tuổi từ 11 đến 15 đang học Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 11 từ lớp 6 đến lớp 9 ở trƣờng THCS.
Lứa tuổi này c n gọi là lứa tuổi thiếu niên, nó có một vị trí đặc biệt trong thời kì phát triển của trẻ em. Vị trí đặc biệt này đƣợc phản ánh b ng những tên gọi khác nhau nhƣ: “Th i quá ộ”; là “Tu i h o”; là “Tu i h ng ho ng”; là “Tu i ất trị” Những tên gọi đó nói lên tính phức tạp và tầm quan trọng của lứa tuổi này trong quá trình phát triển của một con ngƣời. Tuổi thiếu niên là thời kì chuyển từ thời thơ ấu sang tuổi trƣởng thành, là tuổi “Thi u ni n hông òn à trẻ em, nh ng h hẳn à ng i n” [13]. 1 1 1 3 Năng : Hiện nay, khái niệm NL đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau: - Theo Từ điển Tiếng Việt 25; tr.285], NL là khả năng của cá nhân có thể thực hiện một hoạt động nào đó, làm cho hoạt động ấy đạt đến một kết quả nhất định.
NL đƣợc hình thành, thể hiện và phát triển trong hoạt động. Nó chỉ tồn tại trong mối quan hệ với một hoạt động nhất định. - Gerard và Goegiers đã định nghĩa NL là một tích hợp những kĩ năng cho phép nhận biết một tình huống và đáp ứng với tình huống đó một cách tích hợp và một cách tự nhiên [35]. - Theo Bernd Meier và Nguyễn Cƣờng, NL là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng nhƣ sự sẵn sàng hành động [2].
Nhƣ vậy, dựa vào một số khái niệm trên đây, tôi đƣa ra khái niệm theo quan điểm của tôi nhƣ sau: NL hính à thuộ tính t m í á nh n áp ng v i y u ầu ặ tr ng một ho t ộng nào v im ti u àm ho ho t ộng t hi u qu o N hính à t ng hợp á ặ i mt m í á nh n phù hợp v i y u ầu ho t ộng” Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 12 1114 hát tri n năng : Từ khái niệm NL trên cho thấy nếu tạo điều kiện cho họ phát huy tối đa NL của mình thì kết quả sẽ rất tốt. GD định hƣớng PTNL không chỉ nh m mục tiêu PTNL chuyên môn bao gồm tri thức, kĩ năng mà c n PTNL phƣơng pháp, NL xã hội và NL cá thể. Những NL này không thể tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ. NL hành động đƣợc hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các NL này.
Đặc trưng dạy học môn Mĩ thuật ở trường Trung học cơ sở: DH MT ở trƣờng THCS chủ yếu là dạy trên đồ dùng DH nh m kích thích niềm say mê và khả năng sáng tạo của HS. Thực tế của DH MT ở trƣờng THCS đã thừa nhận vai tr , ý nghĩa của phƣơng tiện DH góp phần không nh trong sự nghiệp sáng tạo NT của HS. Theo quan điểm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học thì phƣơng tiện DH trong DH môn MT đƣợc coi là đối tƣợng để HS chủ động, sáng tạo, tự lực khai thác tri thức dƣới sự hƣớng dẫn của GV, nó giúp HS thu nhận thông tin một cách sinh động, kích thích hứng thú nhận thức; r n luyện khả năng quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp; phát triển tƣ duy sáng tạo để vận dụng vào bài vẽ; giúp các em trở thành chủ thể tích cực trong mọi hoạt động [22]. - Sử dụng các phƣơng tiện DH nh m kích thích niềm say mê và khả năng sáng tạo của HS.
+ Đối với DH MT ở trƣờng THCS, phƣơng tiện DH có tác động rất lớn đến xúc cảm thẩm mĩ, tình cảm thẩm mĩ và trí tuệ của HS, bởi MT là NT tạo ra cái đẹp, không đơn giản chỉ là sao chép thực tế. Để giúp HS phát huy đƣợc tính sáng tạo, trong quá trình DH, GV sẽ sử dụng các phƣơng tiện DH để trực quan hóa những vấn đề trừu tƣợng trong bài giảng, giúp HS hiểu rõ đƣợc vấn đề đó. Sự tập trung chú ý của HS khi quan sát các phƣơng tiện DH mà GV đƣa ra sẽ giúp cho quá trình nhận thức của các em Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 13 đƣợc nhanh hơn. HS đƣợc nhìn thấy cái hay, cái đẹp của đối tƣợng thông qua phƣơng tiện DH, để từ đó cảm nhận và thể hiện cái đẹp theo cách nhìn, cách nghĩ, cách cảm nhận riêng của mình.
+ Ở trƣờng THCS, do đối tƣợng ngƣời học là các em HS nh tuổi, vì vậy muốn thuyết phục và lôi cuốn đƣợc HS say mê, hứng thú, học tập, tạo sự hấp dẫn đặc biệt trong giờ học, đ i h i GV MT phải tìm cho mình các phƣơng tiện DH phù hợp để tiết dạy đạt hiệu quả cao, làm cho các em biết phát huy trí tƣởng tƣợng và sáng tạo của mình để tạo ra nhiều bài vẽ đẹp. Trong quá trình sử dụng phƣơng tiện DH, GV phải giảng giải, phân tích nhiều hơn để HS nhanh chóng hiểu bài. Ngoài các phƣơng tiện DH truyền thống là tranh, ảnh, vật thật. GV MT cần kết hợp với các phƣơng tiện kỹ thuật DH khác nhƣ tivi, đầu video, máy tính, máy chiếu để trình chiếu những hình ảnh động, chuyển tải nội dung bài học một cách hấp dẫn, sinh động tới HS.
Chính đồ dùng DH sinh động đó cộng với sự giảng giải, phân tích có sức thuyết phục của GV sẽ tạo cho HS sự rung động, hƣng phấn trong quá trình nhận thức của các em. - Yêu cầu sử dụng phƣơng tiện DH đối với GV dạy MT: + Xu hƣớng DH MT hiện đại đ i h i GV phải biết cách sử dụng có hiệu quả các phƣơng tiện DH, góp phần đổi mới PPDH nh m hƣớng vào ngƣời học, lấy ngƣời học làm trung tâm, khơi dậy niềm say mê, hứng thú trong học tập, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS thông qua các bài vẽ thực hành; đồng thời, r n luyện cho HS PP học tập, PP tƣ duy và PP làm việc 34. Nhiều GV MT thƣờng chỉ nghĩ đến việc cung cấp kiến thức (từ phía thầy) mà quên cách học của HS, cho nên xem thƣờng PP truyền thụ tri thức và hay áp đặt HS. Những GV này chƣa thấy hết đƣợc ý nghĩa to lớn và hiệu quả không nh của việc DH nêu vấn đề, gợi mở vấn đề, cho HS động não suy nghĩ, phát huy trí tƣởng tƣợng và sáng tạo của các Luận văn thạc sĩ ngành Mỹ thuật 14 em vào việc học và việc vẽ nhƣ thế nào.
Họ chƣa lấy đối tƣợng HS làm trung tâm trong các tiết dạy vẽ của mình, vì vậy thành công ít đến với họ. + Để phát huy tối đa tác dụng của các phƣơng tiện DH truyền thống nh m kích thích niềm say mê và khả năng sáng tạo của HS, yêu cầu đối với GV sử dụng các phƣơng tiện DH trong khi dạy các phân môn MT là: Ở ph n môn th ng th MT: GV có thể dùng tranh ảnh phiên bản để giúp HS hiểu thêm về các tác phẩm, các công trình nghệ thuật. GV yêu cầu HS sƣu tầm tranh ảnh, các bài viết có liên quan đến nội dung bài học. Khi giới thiệu tranh ảnh minh họa cho nội dung bài dạy, GV cần đƣa ra đúng lúc và phải phân tích cho HS hiểu về hình ảnh đƣợc giới thiệu, làm đƣợc nhƣ vậy HS tiếp thu kiến thức sẽ hiệu quả hơn.
Ở ph n môn v theo mẫu: Trong phân môn này, vật mẫu thật là quan trọng nhất vì HS cần có mẫu để quan sát và vẽ. Tùy theo điều kiện ở mỗi địa phƣơng, không bắt buộc phải có mẫu đúng nhƣ trong sách giáo khoa. GV có thể lựa chọn các đồ vật có hình dáng tƣơng tự, dễ kiếm ở địa phƣơng. Khi đặt mẫu, GV cần hƣớng dẫn HS biết cách đặt mẫu thế nào cho đẹp và phù hợp góc nhìn của mình.
GV phân tích mẫu (đặc điểm hình dáng, cấu tạo từng bộ phận, độ đậm nhạt, màu sắc.) để HS nắm đƣợc đặc điểm của mẫu.