Tổng quan nghiên cứu

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn đóng vai trò then chốt trong tiến trình công nghiệp hóa và tái cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam. Đến hết năm 2016, cả nước có khoảng 53,24 triệu lao động có việc làm, trong đó khu vực nông thôn chiếm tới 68,3%. Tỷ lệ lao động nông thôn đã qua đào tạo từ trình độ sơ cấp nghề trở lên chỉ đạt 20,3%, thấp hơn gần 3 lần so với khu vực thành thị (35,7%). Tại tỉnh Bắc Kạn, dù trong giai đoạn 2011-2015 toàn tỉnh đã đào tạo nghề cho 33.211 người (đạt 110,3% kế hoạch giao, trong đó dạy nghề dưới 3 tháng và sơ cấp đạt 29.226 người), mặt bằng chất lượng lao động vẫn còn ở mức thấp khi tỷ lệ qua đào tạo toàn tỉnh mới chạm ngưỡng 30%.

Huyện Chợ Mới nằm ở cửa ngõ phía Nam tỉnh Bắc Kạn với tổng diện tích tự nhiên 60.716,08 ha và 16 đơn vị hành chính trực thuộc (15 xã, 1 thị trấn). Dù địa phương đã tích cực triển khai Đề án đào tạo nghề theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, kết quả đạt được trong giai đoạn 2011-2015 còn nhiều hạn chế: tỷ lệ lao động được doanh nghiệp tuyển dụng sau học nghề chỉ đạt khoảng 10%, lao động tự tạo việc làm đạt 30%, và 60% còn lại chủ yếu tự ứng dụng kiến thức vào sản xuất nông hộ.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa quy mô lao động dồi dào với trình độ tay nghề hạn chế, sự thiếu hụt cơ sở vật chất và mối liên kết lỏng lẻo giữa đào tạo với nhu cầu thị trường. Luận văn xác định mục tiêu đánh giá toàn diện thực trạng đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chợ Mới giai đoạn 2014-2016, phân tích các yếu tố tác động và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề đến năm 2020. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học giúp địa phương nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 40%, giảm nghèo bền vững và hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vốn nhân lực (Human Capital Theory) của Theodore Schultz và Gary Becker, khẳng định việc đầu tư vào giáo dục và đào tạo nghề giúp nâng cao kỹ năng, năng suất lao động và tạo ra mức thu nhập cao hơn cho người nông dân. Luận văn cũng kết hợp lý thuyết phân công lao động xã hội để giải thích sự dịch chuyển lao động từ khu vực nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ dưới tác động của tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Khung nghiên cứu dựa trên quy trình đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định số 1956/QĐ-TTg, bao gồm 4 khâu mắt xích: xác định nhu cầu học nghề và sử dụng lao động, xác định mục tiêu đào tạo, xây dựng kế hoạch - phương thức tổ chức, và triển khai đánh giá kết quả đầu ra. Các khái niệm nền tảng được chuẩn hóa gồm:

  • Lao động nông thôn: Công dân trong độ tuổi lao động (nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi) sinh sống và làm việc tại khu vực nông thôn, có khả năng lao động.
  • Đào tạo nghề: Quá trình truyền thụ tri thức khoa học, rèn luyện kỹ năng thực hành và thái độ nghề nghiệp để người học có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm.
  • Phân loại hình thức đào tạo: Đào tạo mới, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ lành nghề; phân cấp theo thời gian (ngắn hạn dưới 3 tháng, dài hạn từ 1 đến 3 năm) và trình độ kỹ năng (bán lành nghề, lành nghề, trình độ cao).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp được thu thập trong giai đoạn 2014-2016. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các báo cáo chính thức của UBND huyện Chợ Mới, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn, Phòng Thống kê huyện và các văn bản chỉ đạo của Tỉnh ủy, HĐND tỉnh Bắc Kạn.

Về dữ liệu sơ cấp, tác giả áp dụng công thức tính cỡ mẫu của Slovin với độ tin cậy khoa học cao:

  • Cỡ mẫu học viên: Tổng thể gồm N = 530 học viên từ 17 lớp học nghề năm 2016 tại 3 cơ sở đào tạo trên địa bàn (Trung tâm Dạy nghề huyện Chợ Mới, Trung tâm Dạy nghề Công nông nghiệp Bắc Kạn, Trung tâm Hỗ trợ phụ nữ phát triển tỉnh). Với sai số cho phép e = 5%, cỡ mẫu xác định là n = 228 học viên, chia đều khảo sát 76 học viên tại mỗi trung tâm.
  • Cỡ mẫu lao động chưa qua đào tạo: Với sai số e = 10%, cỡ mẫu tính toán là 99 lao động. Để nâng cao độ chính xác, tác giả tiến hành điều tra 112 lao động tại toàn bộ 16 xã, thị trấn (mỗi xã điều tra 7 phiếu).
  • Khảo sát cán bộ chuyên trách: Tiến hành điều tra toàn diện 14 cán bộ quản lý và giáo viên dạy nghề tại 3 cơ sở đào tạo.

Phương pháp phân tích sử dụng thống kê mô tả (tính số trung bình, độ lệch chuẩn), so sánh đối chiếu và phân tổ thống kê theo độ tuổi, giới tính, nhóm nghề. Thang đo Likert 5 mức độ (từ 1: Rất không đồng ý đến 5: Rất đồng ý) được sử dụng để lượng hóa các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo, đảm bảo tính khách quan và khoa học cho các kết luận nghiên cứu.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chợ Mới giai đoạn 2014-2016 ghi nhận những kết quả nổi bật song cũng phản ánh nhiều bất cập:

Thứ nhất, quy mô đào tạo còn nhỏ lẻ và tập trung chủ yếu vào nghề nông nghiệp ngắn hạn. Năm 2016, toàn huyện tổ chức được 17 lớp dạy nghề với 530 học viên tốt nghiệp. Chương trình đào tạo tập trung vào 6 nghề chính: kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho gà, lợn; trồng và chăm sóc rau; trồng và khai thác rừng; kỹ thuật trồng nấm; chế biến và bảo quản nông sản. Các lớp học ngắn hạn dưới 3 tháng chiếm trên 85% tổng số lớp, trong khi các lớp đào tạo phi nông nghiệp, kỹ thuật dài hạn gần như chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Thứ hai, hiệu quả tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu lao động sau đào tạo còn ở mức thấp. Trong giai đoạn khảo sát, tỷ lệ học viên có việc làm tại các doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 10%, tỷ lệ tự tạo việc làm đạt 30%, và có đến 60% học viên chỉ dừng lại ở việc áp dụng kiến thức để cải thiện sản xuất nông hộ nhỏ lẻ. Tỷ lệ chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang công nghiệp - dịch vụ sau đào tạo chỉ đạt khoảng 8% đến 12%.

Thứ ba, cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính cho đào tạo nghề còn rất hạn hẹp. Toàn huyện chỉ có 14 cán bộ, giáo viên trực tiếp tham gia quản lý và giảng dạy tại 3 trung tâm. Trang thiết bị thực hành còn thiếu đồng bộ, nhiều máy móc tận dụng từ nguồn thanh lý cũ nên tính sư phạm chưa cao. Nguồn kinh phí đào tạo phụ thuộc gần 100% vào ngân sách nhà nước cấp theo Đề án 1956/QĐ-TTg, thiếu sự tham gia đóng góp từ các doanh nghiệp và nguồn lực xã hội hóa.

Thảo luận kết quả

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự lệch pha đáng kể giữa công tác đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Khảo sát nhu cầu cho thấy khoảng 35% đến 40% lao động trẻ mong muốn học các nghề phi nông nghiệp (cơ khí, may mặc, điện dân dụng) để tìm kiếm việc làm tại các khu công nghiệp. Tuy nhiên, các cơ sở đào tạo tại Chợ Mới chủ yếu mới chỉ cung cấp các khóa học nông nghiệp truyền thống do hạn chế về giảng viên và xưởng thực hành.

Khi so sánh với thị xã Phổ Yên (Thái Nguyên) - địa phương đạt tỷ lệ trên 90% lao động có việc làm sau đào tạo với mức lương bình quân từ 2,5 đến 7,5 triệu đồng/tháng nhờ gắn chặt với các khu công nghiệp, có thể thấy Chợ Mới đang thiếu hụt trầm trọng các doanh nghiệp đóng vai trò bao tiêu nhân lực đầu ra. So sánh với mô hình dự án CB-TREE và IMPP tại huyện Thạch Hà (Hà Tĩnh) với hơn 40 mô hình dạy nghề giúp trên 70% học viên có việc làm ổn định, Chợ Mới chưa phát huy được vai trò của các hợp tác xã và tổ hợp tác trong việc tạo chuỗi liên kết giá trị sau học nghề.

Trong báo cáo thực nghiệm, các dữ liệu này được trực quan hóa thông qua biểu đồ tròn biểu thị cơ cấu ngành nghề đào tạo và bảng ma trận đối chiếu giữa nhu cầu học nghề của người dân với tỷ lệ tuyển dụng thực tế của doanh nghiệp. Điểm nghẽn lớn nhất xuất phát từ địa hình đồi núi dốc (15-25 độ), giao thông liên thôn cách trở, nhận thức của người dân về học nghề còn mang tính thời vụ và thiếu cơ chế gắn kết ba bên: Cơ sở đào tạo - Doanh nghiệp - Người lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

Để nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Chợ Mới giai đoạn 2018-2020, nghiên cứu đề xuất 4 nhóm giải pháp hành động cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện khâu điều tra, dự báo chính xác nhu cầu học nghề. UBND huyện Chợ Mới chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp với UBND 16 xã, thị trấn tiến hành rà soát định kỳ hàng năm vào quý 1. Phấn đấu đạt chỉ tiêu 100% danh mục lớp học mở mới phải xuất phát từ nhu cầu đăng ký thực tế của người dân và đơn đặt hàng sử dụng lao động của doanh nghiệp, đảm bảo độ chuẩn xác dự báo đạt trên 85%.

Thứ hai, đổi mới nội dung chương trình và phương thức đào tạo nghề. Các cơ sở đào tạo nghề trên địa bàn huyện cần cơ cấu lại bài giảng theo hướng tăng thời lượng thực hành lên mức 70% đến 75%. Giai đoạn 2018-2019, tập trung chuẩn hóa giáo trình cho 6 nhóm nghề nông nghiệp thế mạnh gắn với cây chè, hồi, quế, cây ăn quả và kỹ thuật thâm canh gỗ lớn, đồng thời thí điểm mở 2 đến 3 lớp kỹ thuật phi nông nghiệp ngắn hạn (sửa chữa máy nông nghiệp, may công nghiệp).

Thứ ba, xây dựng mô hình liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng giữa Nhà nước, Doanh nghiệp và Hợp tác xã. Ban Chỉ đạo Đề án 1956 huyện Chợ Mới cần ký kết thỏa thuận hợp tác đào tạo và tuyển dụng với ít nhất 10 đến 15 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên. Mục tiêu đến năm 2020 nâng tỷ lệ học viên có việc làm hoặc tự mở rộng quy mô sản xuất có thu nhập ổn định lên trên 65%, với mức thu nhập bình quân đạt từ 3,5 đến 5,0 triệu đồng/người/tháng.

Thứ tư, tăng cường nguồn lực đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đội ngũ giáo viên. Tranh thủ nguồn vốn từ Chương trình mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới và ngân sách tỉnh, ưu tiên nâng cấp trang thiết bị thực hành cho Trung tâm Dạy nghề huyện Chợ Mới. Tổ chức đào tạo chuẩn hóa kỹ năng sư phạm và cập nhật công nghệ mới cho 100% cán bộ, giáo viên dạy nghề định kỳ hàng năm trước năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Kạn, UBND huyện Chợ Mới, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội): Sử dụng làm cơ sở thực tiễn để xây dựng kế hoạch phân bổ chỉ tiêu đào tạo, bố trí ngân sách Đề án 1956 và hoạch định chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo giai đoạn 2020-2025.

Thứ hai, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp và trung tâm dạy nghề khu vực miền núi: Ứng dụng quy trình khảo sát nhu cầu theo công thức mẫu Slovin, phương pháp xây dựng giáo trình thực hành thích ứng với đặc điểm tâm lý, trình độ học vấn của lao động nông thôn là đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ ba, các doanh nghiệp, hợp tác xã nông - lâm nghiệp tại địa phương: Tham khảo để xây dựng mô hình phối hợp đặt hàng đào tạo nhân lực tại chỗ, giúp tiết kiệm chi phí tuyển dụng và đảm bảo nguồn lao động thạo nghề phục vụ mở rộng sản xuất kinh doanh.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp, Quản lý kinh tế: Khai thác bộ khung lý thuyết, hệ thống chỉ tiêu đánh giá kết quả - hiệu quả đào tạo nghề và phương pháp xử lý dữ liệu định lượng bằng thang đo Likert làm tiền đề cho các đề tài nghiên cứu liên quan.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn lớn nhất trong công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Chợ Mới giai đoạn 2014-2016 là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là sự mất cân đối giữa đào tạo và giải quyết việc làm sau đào tạo. Khoảng 85% các lớp dạy nghề chỉ tập trung vào nghề nông nghiệp ngắn hạn dưới 3 tháng. Tỷ lệ học viên được doanh nghiệp tuyển dụng chỉ đạt khoảng 10%, trong khi kinh phí và trang thiết bị thực hành tại 3 trung tâm dạy nghề còn rất thiếu thốn và lạc hậu.

Luận văn sử dụng công thức chọn mẫu nào để đảm bảo tính đại diện cho kết quả nghiên cứu?
Tác giả sử dụng công thức tính cỡ mẫu của Slovin. Từ tổng thể N = 530 học viên năm 2016, với sai số e = 5%, nghiên cứu đã chọn mẫu đại diện n = 228 học viên tại 3 cơ sở dạy nghề. Đồng thời, tác giả khảo sát 112 lao động chưa qua đào tạo tại 16 xã, thị trấn với sai số e = 10% và phỏng vấn toàn bộ 14 cán bộ, giáo viên.

Những ngành nghề nào được tổ chức đào tạo phổ biến nhất trên địa bàn huyện Chợ Mới?
Địa phương tập trung đào tạo 6 ngành nghề nông nghiệp chính gồm: kỹ thuật nuôi và phòng trị bệnh cho gia cầm (gà), lợn; trồng và chăm sóc cây rau màu; trồng, chăm sóc và khai thác rừng; kỹ thuật trồng nấm; bảo quản và chế biến nông sản sau thu hoạch. Các nghề này phù hợp với điều kiện tự nhiên nhưng còn thiếu tính đa dạng.

Hiệu quả kinh tế của người lao động nông thôn sau khi tham gia học nghề đạt mức nào?
Sau đào tạo, khoảng 30% học viên tự tạo việc làm và mở rộng quy mô gia trại, 60% áp dụng kỹ thuật vào sản xuất hộ gia đình giúp tăng năng suất cây trồng, vật nuôi. Tuy nhiên, mức thu nhập tăng thêm còn khiêm tốn, chỉ có khoảng 10% lao động được doanh nghiệp tuyển dụng với mức lương ổn định từ 3,0 đến 4,5 triệu đồng/tháng.

Huyện Chợ Mới có thể học tập được bài học gì từ mô hình đào tạo nghề của thị xã Phổ Yên?
Chợ Mới cần học tập Phổ Yên ở việc gắn đào tạo nghề với quy hoạch phát triển công nghiệp và nhu cầu tuyển dụng thực tế. Cần yêu cầu doanh nghiệp cam kết tiếp nhận lao động sau đào tạo (Phổ Yên đạt trên 90% có việc làm), đồng thời đẩy mạnh đào tạo nghề phi nông nghiệp để tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế vững chắc.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại khu vực miền núi.
  • Phân tích thực trạng giai đoạn 2014-2016, làm rõ kết quả tổ chức 17 lớp học nghề cho 530 học viên năm 2016 tại 3 trung tâm dạy nghề trên địa bàn huyện Chợ Mới.
  • Chỉ rõ các hạn chế cốt lõi: tỷ lệ giải quyết việc làm tại doanh nghiệp chỉ đạt khoảng 10%, cơ sở vật chất giảng dạy thiếu thốn và nguồn kinh phí phụ thuộc hoàn toàn vào ngân sách.
  • Đúc kết bài học kinh nghiệm từ huyện Thạch Hà và thị xã Phổ Yên, xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ gắn với lộ trình thực hiện cụ thể đến năm 2020.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực chứng giúp chính quyền huyện Chợ Mới nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 40%, thúc đẩy giảm nghèo bền vững.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết và bộ giải pháp mang tính ứng dụng cao cho ngành Kinh tế nông nghiệp tại địa bàn miền núi Đông Bắc. Trong giai đoạn tiếp theo, các cơ quan ban ngành cần sớm hoàn thiện quy chế phối hợp đào tạo nghề gắn với chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm nông - lâm nghiệp. Luận văn là tài liệu tham khảo hữu ích, khuyến khích các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và cơ sở giáo dục nghề nghiệp khai thác ứng dụng nhằm nâng tầm chất lượng nguồn nhân lực nông thôn Việt Nam.