Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Các phương thức tiếp cận bảo tồn 1. Các phương thức bảo tồn truyền thống Bảo tồn đa dạng sinh học ở mọi mức độ về cơ bản là duy trì các quần thể loài đang tồn tại và phát triển. Công việc này có thể được tiến hành bên trong hoặc bên ngoài nơi sống tự nhiên.
Hiện nay, cách thức và nguyên tắc để bảo tồn đa dạng sinh học được các nước áp dụng đó là bảo tồn nguyên vị (in- situ) và bảo tồn chuyển vị (ex-situ). * Bảo tồn nguyên vị là hình thức bảo tồn tại chỗ. Đây là một trong những hình thức bảo tồn được áp dụng phổ biến nhất tại nhiều quốc gia. Hình thức này được áp dụng cho tất cả mọi đối tượng cần được bảo tồn, những đối tượng chưa có nguy cơ tuyệt chủng hoặc xâm hại, hoặc trong điều kiện con người có thể can thiệp bằng các biện pháp để quản lý, bảo vệ.
Thông thường bảo tồn nguyên vị được thực hiện bằng cách thành lập các khu bảo tồn và đề xuất các bịên pháp quản lý phù hợp. Ưu điểm của hình thức bảo tồn này là: chi phí thấp, phù hợp với điều kiện môi trường sống tự nhiên của các loài nên đảm bảo cho sự sinh trưởng và phát triển. Tuy nhiên, hình thức bảo tồn này cũng có những nhược điểm đó là: có thể xảy ra những nguy cơ, rủi ro, thảm họa do con người hoặc tự nhiên gây ra bất cứ lúc nào. * Bảo tồn chuyển vị là cách thức di chuyển đối tượng bảo tồn khỏi vị trí mà chúng tồn tại.
Thường cách thức này được áp dụng đối với những đối tượng có nguy cơ bị đe dọa và tuyệt chủng cao, những loài đặc biệt quý hiếm trong tự nhiên, hoặc phân bố ở những nơi xa xôi, địa hình hiểm trở khó tiếp cận. 5 Với hình thức bảo tồn chuyển vị, đối tượng bảo tồn có thể được lưu giữ trong ngân hàng gien, bảo tàng hoặc cũng có thể di chuyển đối tượng cần bảo tồn đến vị trí, địa điểm phù hợp. Hình thức bảo tồn này không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc bảo tồn mà còn rất thuận lợi cho mục đích nghiên cứu, trưng bày, giới thiệu. Nhược điểm của hình thức bảo tồn này là chi phí tốn kém, đòi hỏi trình độ kỹ thuật, công nghệ cao.
Tuy nhiên, ưu điểm là khắc phục được những nhược điểm của hình thức bảo tồn nguyên vị, bảo tồn được tiêu bản của đối tượng lúc thu thập và có thể lưu giữ lâu dài trong tương lai, tránh được những rủi ro do thiên nhiên gây ra. Bên cạnh đó, phương pháp này không chỉ làm tăng số lượng các quần thể, cá thể mà còn tránh được các nguy cơ suy thoái trong các giống, loài bản địa. Theo cách truyền thống, ban quản lý các VQG, KBT tập trung gìn giữ những giá trị đa dạng sinh học và họ không cho phép cộng đồng địa phương tham gia vào quá trình ra quyết định và chia sẻ lợi ích các giá trị tài nguyên. Cách tiếp cận này đã được hiểu như những rào cản và hình phạt (Leader- Williams & Albon, 1988) [20].
Việt Nam là một trong những quốc gia có tài nguyên đa dạng sinh học bậc nhất trên thế giới và được công nhận như là một ưu tiêu cao cho bảo tồn toàn cầu (WB 2005) [32]. Để gìn giữ và bảo tồn hiệu quả giá trị này, 164 khu rừng đặc dụng (gồm 30 Vườn Quốc gia, 69 khu dự trữ thiên nhiên, 45 khu 6 bảo vệ cảnh quan, 20 khu nghiên cứu thực nghiệm khoa học và 3 khu bảo tồn biển) đã được thành lập trên khắp các vùng, miền cả nước (IUCN 2008) [2]. Tuy nhiên, quản lý các khu rừng đặc dụng đang đối mặt với nhiều trở ngại, bao gồm thiếu sự hỗ trợ kiên định từ chính quyền địa phương và giới hạn về tài chính. Rất nhiều cán bộ làm việc ở các khu bảo tồn có năng lực không phù hợp để đáp ứng nhu cầu quản lý các khu bảo tồn (WB 2005) [32].
Mạng lưới các khu rừng đặc dụng đều phân bố ở vùng sâu và vùng xa, nơi có cuộc sống của cộng đồng địa phương phụ thuộc rất nhiều vào tài nguyên rừng. Tuy nhiên, hình thái quản lý các khu rừng đặc dụng chưa gắn kết được người dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, và chưa có sự phân quyền trong quản lý các khu rừng đặc dụng; hầu hết các khu rừng tự nhiên đều do nhà nước quản lý (76.7%) và tập thể (4.9%) (Nguyễn Quang Tân và cộng sự. [25] Do vậy, trong những thập kỷ qua, mặc dù chính phủ và các bộ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật nhằm gìn giữ và bảo tồn tài nguyên ở các khu rừng đặc dụng, tình trạng suy thoái đa dạng sinh học vẫn đang diễn ra ở mức độ đáng báo động. Cụ thể là khi nền kinh tế của Việt Nam phát triển mở rộng và dân số phát triển, Việt Nam đã chứng kiến tốc độ sinh cảnh bị mất và phân mảnh, ô nhiễm môi trường và sự xâm nhập các loài ngoại lai cao.
World Bank (2005) báo cáo rằng, Việt Nam có gần 700 loài đang bị đe doạ với mức tuyệt chủng cấp quốc gia và trên 300 loài bị đe doạ với mức tuyệt chủng toàn cầu, nghĩa là chúng đang đối mặt với mức độ cao của tuyệt chủng ở trong tự nhiên. Nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn, những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 sẽ chứng kiến sự tuyệt chủng các loài chưa từng có trong lịch sử Việt Nam. Một minh chứng là loài Tê giác Java ở Việt Nam đã bị tuyệt chủng năm 2011. Nhiều nhà bảo tồn cho rằng, nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm tài 7 nguyên đa dạng sinh học là do thiếu sự sắp xếp về quản trị rừng, năng lực và cam kết trong việc thực hiện các chính sách tốt, và thiếu quyền sở hữu tài nguyên thiên nhiên của cộng đồng địa phương.
Nó chứa một hệ sinh thái đá vôi độc đáo và bị phân lập với đất liền, góp phần vào sự nổi tiếng về giá trị đặc hữu hiếm quý cho Quần đảo Cát Bà, ví dụ loài Voọc Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus); Dơi mũi xám lớn (Hipposideros grandis) được phát hiện năm 2006; loài Thạch sùng mí Cát Bà (Goniurosaurus catbaensis) được phát hiện năm 2007; loài Thằn lằn Phê-nô Bắc bộ (Sphenomorphus tonkinensis) được phát hiện năm 2011; và loài Dơi nếp mũi Grip-phin (Hipposideros griffini) được phát hiện năm 2012 - là những loài quý hiếm và đặc hữu của Cát Bà và Việt Nam. [32] Nhằm gìn giữ và phát triển bền vững những giá trị đa dạng độc đáo và quý hiếm này, Vườn Quốc gia (VQG) Cát Bà được thành lập năm 1986, và Khu Dự trữ Sinh quyển (KDTSQ) Cát Bà được tổ chức UNESCO công nhận năm 2004. Tuy nhiên, việc thành lập các KBT và VQG trên những mảnh đất, mảnh rừng đang có các cộng đồng sinh sống và tài nguyên rừng (TNR) là nguồn sinh kế chủ yếu của họ, dẫn đến những mâu thuẫn khi họ không nhận thấy rằng bảo tồn TNR là cần thiết và đặc biệt là không được cung cấp các nguồn sinh kế khác thay thế. Thực tế cho thấy, sự tác động của các CĐĐP vào TNR vẫn đang tồn tại và tại mỗi KBT và VQG với những đặc điểm về địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau, sự tác động này có những hình thức khác nhau.
Bảo tồn dựa vào cộng đồng Trong những thập kỷ qua, các phương thức bảo tồn ở những nước đang phát triển đã được cách mạng hoá bằng một loạt các ý tưởng liên quan đến cộng đồng địa phương sinh sống trong và xung quanh các khu bảo tồn [7, 10, 33, 29]. Có một sự thật rằng người dân bản địa và cộng đồng địa phương sinh sống trong và gần các khu bảo tồn ở các nước đang phát triển thường rất nghèo, và họ có ít cơ hội để phát triển (Scherl & Edwards 2007) [30]. Vì vậy, sinh kế của họ phụ thuộc rất nhiều vào khai thác tài nguyên nhiên nhiên. Tuy nhiên, việc thành lập mạng lưới các khu bảo tồn đã ngăn cản họ sử dụng tài nguyên nhiên nhiên mà họ đã khai thác và sử dụng lâu đời.
Hơn thế nữa, thành lập các khu bảo tồn thường làm hạn chế các cơ hội sử dụng đất trong tương lai, làm tăng chi phí sản xuất và giảm cơ hội phát triển kinh tế cho người dân địa phương [7]. Hậu quả là, người dân địa phương săn bắt động vật hoang dã và khai thác gỗ bên trong các khu bảo tồn là điều hiển nhiên (Stolton và cộng sự. Từ những vấn đề trên, các sáng kiến về bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học theo hướng phát triển bền vững đã ra đời. Những sáng kiến này được đề cập đến bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như bảo tồn và phát triển tổng hợp, đồng quản lý, bảo tồn dựa vào cộng đồng, bản thỏa thuận chia sẻ lợi ích và sử dụng bền vững tài nguyên rừng.
Tuy nhiên chúng đều xuất phát từ một đặc tính chung là bảo tồn có thể đạt được kết quả tốt nhất khi phúc lợi, an ninh sinh kế và sự tham gia của người dân địa phương sinh sống trong và xung quanh các khu bảo tồn được đảm bảo. Những sáng kiến này được mô tả như là một sự thành công cả về giá trị sinh thái và công bằng xã hội bởi vì nó góp 9 phần vào việc cải thiện cả sinh kế và giá trị đa dạng sinh học (Fernandez 2009) [17]. Điều này được thể hiện qua sự thay đổi hình thức trong quản lý rừng và phân quyền trong quản lý các khu bảo tồn của IUCN. Bên cạnh đó, Dudley (2008) cũng nhấn mạnh rằng một khu bảo tồn thiên nhiên phải có sự công bằng giữa chi phí và lợi ích giữa các bên liên quan, trong đó chú trọng đảm bảo lợi ích của cộng đồng địa phương và đồng bào dân tộc ít người.
[15] Những hình thái quản lý rừng này đã bước đầu có những ảnh hưởng tích cực đến các mục tiêu quản lý của khu bảo tồn, đảm bảo an ninh sinh kế cho cộng đồng và giảm thiểu mẫu thuẫn giữa ban quản lý khu bảo tồn và cộng đồng địa phương, và giảm áp lực hỗ trợ tài chính cho các nhà tài trợ. Việc này đã được chứng minh ở một số nơi, điển hình là Nam Phi qua việc phân quyền quản lý tài nguyên thiên nhiên cho cộng đồng địa phương, đã đóng góp rất lớn vào phục hồi tài nguyên rừng và động vật hoang dã.