phần mở đầu và kết luận chung của đề tài nghiên cứu, đề tài gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Chƣơng 2. Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3. Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4.
Kết luận và hàm ý chính sách e 6 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DỊCH VỤ KHÁM CHỮA BỆNH NGOẠI TRÚ 1. Dịch vụ và dịch vụ y tế 1.
Dịch vụ Định nghĩa về dịch vụ đã đƣợc nhiều nghiên cứu đƣa ra, tuy nhiên, do đặc điểm chủ yếu của dịch vụ nhƣ tính vô hình và khó nắm bắt, tính đa dạng, phong phú, phức tạp của các loại hình dịch vụ nên đến nay vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ đƣợc áp dụng chung. Dịch vụ là những hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo giá trị sử dụng cho khách hàng làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng [48]. Dịch vụ là một hoạt động hoặc chuỗi các hoạt động ít nhiều có tính chất vô hình trong đó diễn ra sự tƣơng tác giữa khách hàng và các nhân viên tiếp xúc với khách hàng, các nguồn lực vật chất, hàng hóa hay hệ thống cung cấp dịch vụ [33]. Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này cung cấp cho chủ thể kia, trong đó đối tƣợng cung cấp nhất thiết phải mang tính vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một vật nào cả, còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không có thể gắn liền với một sản phẩm vật chất nào [9].
Ở Việt Nam, một số nhà nghiên cứu đã đƣa ra định nghĩa để có thể chuyển tải những nội dung cơ bản và khá đầy đủ về dịch vụ. Dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trƣớc, nơi mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tƣơng tác với nhau. Mục đích của việc tƣơng tác này là nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn e 7 của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi, cũng nhƣ tạo ra giá trị cho khách hàng [7]. Nhƣ vậy, dịch vụ là kết quả của quá trình lao động, sản xuất nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của con ngƣời; dịch vụ nhiều khi là vô hình, là phi vật thể.
Dịch vụ có những đặc điểm cơ bản sau: dịch vụ nhiều khi là vô hình nên khó xác định, quá trình sản xuất (cung ứng) dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ thƣờng xảy ra đồng thời và dịch vụ không lƣu trữ đƣợc. Dịch vụ y tế Dịch vụ y tế là loại hàng hóa mà ngƣời sử dụng (ngƣời bệnh) thƣờng không thể hoàn toàn tự mình chủ động lựa chọn loại dịch vụ theo ý muốn mà phụ thuộc rất nhiều vào bên cung ứng (cơ sở y tế). Cụ thể, khi ngƣời bệnh có nhu cầu khám chữa bệnh, việc điều trị bằng phƣơng pháp nào, thời gian bao lâu hoàn toàn do thầy thuốc quyết định. Nhƣ vậy, ngƣời bệnh chỉ có thể lựa chọn nơi điều trị, ở một chừng mực nào đó, ngƣời chữa cho mình chứ không đƣợc chủ động lựa chọn phƣơng pháp điều trị.
Mặt khác, do dịch vụ y tế là loại gắn liền với tính mạng con ngƣời nên mặc dù không có tiền nhƣng vẫn phải khám chữa bệnh (mua). Đặc điểm đặc biệt này không giống các loại hàng hóa khác, đó là đối với các loại hàng hóa không phải là sức khỏe, ngƣời mua có thể có nhiều giải pháp lựa chọn, thậm chí tạm thời không mua nếu chƣa có khả năng tài chính [6]. Dịch vụ y tế là một dịch vụ khá đặc biệt. Về bản chất, dịch vụ y tế bao gồm các hoạt động đƣợc thực hiện bởi nhân viên y tế nhƣ khám, chữa bệnh phục vụ ngƣời bệnh và gia đình [6].
Vì vậy có thể khái quát: Dịch vụ y tế là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tác động qua lại của ngƣời sử dụng và ngƣời cung cấp dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về sức khỏe: nhƣ khám chữa bệnh, tƣ vấn, chăm sóc sức khỏe tại các cơ sở y tế nhƣ: bệnh viện, trung tâm y tế, phòng khám nhà nƣớc e 8 và tƣ nhân. Dịch vụ y tế bao gồm hai nhóm dịch vụ: Nhóm dịch vụ khám, chữa bệnh và nhóm dịch vụ y tế công cộng nhƣ phòng chống dịch bệnh. Dịch vụ khám chữa bệnh Để làm rõ khái niệm dịch vụ khám chữa bệnh, tác giả sử dụng khái niệm Khám bệnh, chữa bệnh đã đƣợc định nghĩa trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh số 40/2009/QH12, đó là: “Khám bệnh là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phƣơng pháp điều trị phù hợp đã đƣợc công nhận”. “Chữa bệnh là việc sử dụng phƣơng pháp chuyên môn kỹ thuật đã đƣợc công nhận và thuốc đã đƣợc phép lƣu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho ngƣời bệnh”.
Nhƣ vậy có thể hiểu dịch vụ khám chữa bệnh là toàn bộ các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của nhân viên y tế nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của ngƣời bệnh mà sản phẩm của nó tồn tại dƣới hình thái phi vật thể. Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do các bệnh viện cung cấp là dịch vụ xã hội cơ bản [12]. Ngƣời bệnh là ngƣời sử dụng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh. Dịch vụ khám chữa bệnh là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tƣơng tác giữa ngƣời cung cấp dịch vụ và ngƣời bệnh để đáp ứng nhu cầu về sức khoẻ nhƣ khám bệnh, chẩn đoán và đƣa ra phƣơng pháp điều trị thích hợp nhằm nâng cao sức khoẻ do các cơ sở y tế Nhà nƣớc (Trạm y tế xã, Trung tâm y tế huyện/thành phố, các cơ sở y tế tuyến tỉnh và trung ƣơng) và các cơ sở y tế tƣ nhân (Phòng khám, bệnh viện tƣ) cung cấp.
Ngoài ra, dịch vụ khám chữa bệnh đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu trong các công trình, cụ thể: e 9 Theo Trần Thị Hồng Cẩm (2017) đƣa ra khái niệm dịch vụ khám chữa bệnh là toàn bộ các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của nhân viên y tế nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe của ngƣời bệnh mà sản phẩm của nó tồn tại dƣới hình thái phi vật thể. Dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh do các bệnh viện cung cấp là dịch vụ xã hội cơ bản [2]. Theo Nguyễn Thị Thu (2021), dịch vụ khám chữa bệnh là việc thực hiện khám bệnh (hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm xét nghiệm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phƣơng pháp điều trị phù hợp đã đƣợc công nhận) và chữa bệnh (sử dụng phƣơng pháp chuyên môn kỹ thuật đã đƣợc công nhận và thuốc đã đƣợc phép lƣu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng) cho ngƣời bệnh [15]. Khám chữa bệnh nội trú và ngoại trú Căn cứ quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh, sau khi khám chữa bệnh hoặc theo yêu cầu thì ngƣời bệnh sẽ đƣợc chỉ định điều trị nội trú hoặc điều trị ngoại trú.
- Các trƣờng hợp điều trị ngoại trú: + Ngƣời bệnh không cần điều trị nội trú; + Ngƣời bệnh sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhƣng phải theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. - Các trƣờng hợp điều trị nội trú: + Có chỉ định điều trị nội trú của bác sĩ; + Có giấy chuyển đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh từ cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác [12]. Nhƣ vậy, trong phạm vi nghiên cứu này, ngƣời bệnh ngoại trú có thể hiểu là ngƣời không cần điều trị nội trú (nằm điều trị trực tiếp tại bệnh viện) hoặc là ngƣời sau khi đã đƣợc điều trị nội trú ổn định quay trở lại để khám e 10 chữa bệnh để đƣợc nhân viên y tế tiếp tục theo dõi và điều trị bệnh. Ngƣời bệnh ngoại trú có thể là trẻ em, thanh thiếu niên hoặc ngƣời già, có nhu cầu cần khám chữa bệnh mà không cần phải điều trị nội trú tại bệnh viện.
Đặc điểm dịch vụ khám chữa bệnh Theo Lehtnen và Lehtinen (1982), chất lƣợng dịch vụ phải đƣợc đánh giá trên 2 khía cạnh (1) quá trình cung cấp dịch vụ và (2) kết quả của dịch vụ. Trong khi đó, Gronroos (1984) cũng đƣa ra định nghĩa về chất lƣợng dịch vụ gồm 2 yếu tố của chất lƣợng dịch vụ đó là (1) chất lƣợng kỹ thuật và (2) chất lƣợng chức năng. Trong đó chất lƣợng dịch vụ liên quan đến những gì đƣợc phục vụ còn chất lƣợng chức năng cho biết chúng đƣợc phục vụ thế nào. Dịch vụ khám chữa bệnh là một ngành dịch vụ có điều kiện, tức là có sự hạn chế nhất định đối với sự gia nhập thị trƣờng của các nhà cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh.
Cụ thể, muốn cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh cần đƣợc cấp giấy phép hành nghề và cần đảm bảo những điều kiện nhất định về cơ sở vật chất. Nói một cách khác, trong thị trƣờng dịch vụ khám chữa bệnh không có sự cạnh tranh hoàn hảo. Dịch vụ khám chữa bệnh là một ngành dịch vụ trong đó ngƣời cung ứng và ngƣời sử dụng quan hệ với nhau thông qua giá dịch vụ [38]. Tƣơng tự nhƣ các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ khám chữa bệnh có đặc điểm sau: - Tính chất vô hình của dịch vụ: Dịch vụ xuất hiện đa dạng nhƣng không tồn tại ở một mô hình cụ thể nhƣ đối với sản xuất hàng hoá.
- Tính chất đúng thời điểm và không thể dự trữ, không thoả mãn hai điều kiện này dịch vụ trở nên không có giá trị. - Do phụ thuộc quá nhiều yếu tố: Không gian, thời gian, trạng thái tâm lý, hoàn cảnh của các bên tham gia. nên chất lƣợng dịch vụ mang tính chất không đồng đều. e 11 - Do tính chất không thể dự trữ và không đồng đều nên gặp khó khăn trong việc tiêu chuẩn hoá dịch vụ.
Tuy nhiên vẫn có thể xác định đƣợc một mức độ phục vụ nhất định nào đó. - Dịch vụ không thể tồn tại độc lập mà gắn liền với ngƣời tạo dịch vụ. Khác với hàng hoá, dịch vụ là sự gắn chặt song hành giữa dịch vụ với ngƣời tạo ra dịch vụ. - Chính từ sự yêu cầu của ngƣời sử dụng mà dịch vụ hình thành và quá trình tạo ra dịch vụ cũng chính là quá trình tiêu dùng dịch vụ.
Đó là sự ảnh hƣởng mật thiết của ngƣời tiêu dùng tới sự tồn tại của dịch vụ [15].