CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ THÍCH HỢP ĐẤT ĐAI PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG 1. Khái niệm về đất và đất đai. Năm 1897, nhà Thổ nhưỡng học người Nga V. Docutraev lần đầu đã xác định: “Đất là tầng mặt hoặc tầng ngoài của đá bị biến đổi một cách tự nhiên dưới tác dụng tổng hợp của nước, không khí, các sinh vật sống và chết khác nhau”.
Sau đó, ông đã bổ sung thêm cho khái niệm về đất của minh. Theo ông “đất trên bề mặt lục địa được hình thành do sự tác động cực kỳ phức tạp của khí hậu địa phương, thực vật và động vật, thành phần và cấu tạo của đá mẹ, địa hình địa phương và cuối cùng là tuổi của một lãnh thổ nhất định”[10]. Quan điểm do Docutraev là luận điểm xuất phát cơ bản cho khái niệm về sự phát sinh của đất theo đó Đất được coi một vật thể tự nhiên cấu tạo độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian. Tuy vậy, khái niệm này chưa đề cập đến khả năng sử dụng và sự tác động của các yếu tố khác tồn tại trong môi trường xung quanh.
Do đó, sau này một số học giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên. Trên cơ sở đó, học giả người Anh V.Wiliam đã phát triển học thuyết về độ phì của đất. Ông đã xác định độ phì nhiêu của đất là khả năng của nó thỏa mãn với một mức độ nhất định yêu cầu của cây về các yếu tố thổ nhưỡng của sự sống. Trên cơ sở đặc điểm quan trọng này của đất, Wiliam đã xác định khái niệm về đất: “Khi chúng ta nói về đất, chúng ta phải hiểu đó là tầng mặt tơi xốp của lục địa có khả năng tạo ra sản phẩm cho cây trồng”.
Chính nhờ có độ phì nhiêu mà đất có khả năng tạo ra sản sản phẩm của cây. Cũng chính cái đó làm cho đất trở thành vốn cơ bản của sản xuất nông nghiệp, là “điều kiện không thể thiếu được của sự tồn tại và tái sinh của hàng loạt thế hệ loài người kế tiếp nhau”[10]. Muốn tiếp tục phát triển sản xuất sau này vấn đề đặc biệt quan trọng là phải 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu về độ phì nhiêu đất. Kinh nghiệm cho thấy năng suất cao chỉ có thể đạt được khi mà dựa trên kỹ thuật canh tác đúng, và khi chúng ta năm được những yêu cầu của cây trồng và đặc điểm của đất.Độ phì nhiêu của đất hiểu một cách vắn tắt là khả năng của đất cung cấp cho cây, trong thời gian sinh trưởng, một số lượng nước và chất dinh dưỡng cần thiết.
Đất nghèo nhất cũng chứa một số lượng chất dinh dưỡng cần cho cây đủ đạt một năng suất nhất định[1]. Từ kinh nghiệm và tri thức của thế giới, các nhà thổ nhưỡng Việt Nam đã khái quát lại và cho rằng “Đất là phần trên mặt của vỏ trái đất mà ở đó cây cối có thể mọc được” và từ đấy suy rộng ra thành những quan điểm về đất đai như sau: “Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất bao gồm các yếu tố cấu thành của môi trường sinh thái ngay bên trên và dưới bề mặt đó như: Khí hậu thời tiết, thổ nhưỡng, địa hình, mặt nước (hồ, sông suối…), các dạng trầm tích sát bề mặt cùng với nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất, tập đoàn thực vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả nghiên cứu trong quá khứ và hiện tại để lại”[7].Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: Khí hậu, lớp đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã hội loài người. Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất làm muối hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp.
Nghiên cứu về phân loại đất xây dựng bản đồ thổ nhưỡng. Theo[16], công tác điều tra lập bản đồ thổ nhưỡng (bản đồ đất) ở Việt Nam được tiến hành ngay từ trước những năm 60 của thế kỷ XX, cụ thể là từ năm 1960 đến 1975 các cơ quan chuyên môn trong đó có Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã xây dựng các Bản đồ thổ nhưỡng tỷ lệ 1/25.000 cấp huyện, tỷ lệ 1/50.000 của hầu hết các tỉnh thành phía Bắc. Tại Lạng Sơn, từ những 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm 1967 – 1969 Vụ Quản lý ruộng đất - Bộ Nông nghiệp đã cùng với tỉnh điều tra xây dựng bản đồ đất tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1/100. Đến năm 1982- 1984, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã tiến hành bổ sung, chỉnh lý xây dựng bản đồ đất tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1/100.
Đợt chỉnh lý này, bản đồ đã thể hiện được các loại đất chính, chỉ tiêu độ dày tầng đất mịn 3 cấp (X-Y-Z) và độ dốc chia thành 5 cấp (I: 0-3o, II : 3-8o, III : 8-15o, IV : 15-25o, V : >25o). Trong 3 năm 1992 – 1994, để phục vụ phát triển vùng cây ăn quả và cà phê Lạng Sơn, Viện QH và TKNN – Bộ NN và PTNT đã tiến hành khảo sát xây dựng bản đồ đất cho một số huyện như huyện Văn Quan, Hữu Lũng, Bắc Sơn và Bình Gia song chủ yếu tập trung ở khu vực đất đồi núi. Tuy nhiên, do công nghệ thực hiện và tác động của thời gian trong quá trình sử dụng, bảo quản, đa số bản đồ thổ nhưỡng đã không còn phản ánh đúng thực trạng tài nguyên đất hiện nay, bởi những không cập nhật được những thay đổi đáng kể về phân bố không gian, quy mô diện tích và thậm chí cả một số đặc tính vật lý hóa học của khá nhiều loại đất. Vì thế, từ 2003 - 2005, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã giao Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp điều tra bổ sung, chỉnh lý bản đồ đất 64 tỉnh/thành thuộc phạm vi cả nước (trong đó có tỉnh Lạng Sơn) theo một quy trình và khuôn dạng thống nhất.
Mặc dù chất lượng bản đồ đất đã được cập nhật và cải thiện đáng kể, nội dung thể hiện đã theo một khuôn dạng chung nhưng vẫn còn nổi cộm vấn đề mà do nhiều nguyên nhân khách quan, chưa thể cập nhật một cách đầy đủ và chi tiết được, đó là: thể hiện về đặc tính vật lý hoá học của đất, chất lượng đất, cơ bản mới có ở một số khoanh đại diện cho từng loại đất, các khoanh còn lại hầu như chỉ được nội suy từ khoanh đại diện này, vì thế hạn chế độ chính xác của kết quả phân hạng đất đai khi cần đánh giá chi tiết cho quy mô cấp huyện hay từng cây trồng, kéo theo sự thiếu tính thực tế và khách quan của kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất xây dựng từ kết quả đánh giá đất đai. Bản đồ đất tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1/100.000 cũng có chung thực trạng này. Còn với bản đồ đất của 11 huyện /thị thì hầu như chưa được bổ sung chỉnh lý ngoại trừ vùng chuyên canh dứa Lộc Bình và hồi Cao Lộc.Để khắc phục thực trạng này, từ 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đầu những năm 90, phương pháp phân loại định lượng theo FAO -UNESCO đã được ứng dụng vào công tác điều tra lập bản đồ đất ở nước ta và được coi là tiến bộ kỹ thuật nên được áp dụng ở nhiều địa phương nhằm bước đầu quốc tế hoá các thông tin về đất, góp phần vào việc trao đổi học thuật quốc tế cũng như khai thác có hiệu quả đất đai cho phát triển kinh tế -xã hội trên địa bàn tỉnh. Năm 2004, Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp đã tiến hành phúc tra, chỉnh lý, xây dựng bản đồ đất tỉnh Lạng Sơn tỷ lệ 1/100.000 theo quan điểm phân loại định lượng FAO-UNESCO, nhưng nghiên cứu được giới hạn trên các loại đất phân bố ở độ dốc dưới 25othuộc phạm vi hành chính của 10 huyện và thành phố Lạng Sơn.
Nghiên cứu về đánh giá đất. Đứng trước tình hình suy thoái đất diễn ra mạnh mẽ và ngày một tăng, từ những năm 70, nhiều quốc gia trên thế giới đã cố gắng phát triển hệ thống Đánh giá đất đai của họ nhằm có những giải pháp hợp lý trong sử dụng đất trên phạm vi toàn cầu. Thấy rõ được tầm quan trọng của công tác đánh giá và phân hạng đất, tổ chức FAO với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành thành lập Uỷ ban Quốc tế nghiên cứu Đánh giá đất của tổ chức FAO tại Rome (Ý) và đã phác thảo đề cương đánh giá đất đai lần đầu tiên vào năm 1972. Qua quá trình nghiên cứu, các chuyên gia về đất đã nhận thấy cần có những cuộc thảo luận quốc tế nhằm đạt được sự thống nhất và tiêu chuẩn hóa các phương pháp.
Nhận thức rõ vai trò quan trọng của ĐGĐĐ làm cơ sở cho công tác quy hoạch sử dụng đất đai, FAO đã tổng hợp các kết quả và tổng hợp kinh nghiệm của nhiều nước, đề ra phương pháp ĐGĐĐ dựa trên cơ sở Phân loại Thích hợp Đất đai (Land Suitability Classification). Cơ sở của phương pháp này là so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng đất, gắn với phân tích các khía cạnh về kinh tế - xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đất tối ưu. Đó chính là đề cương đánh giá đất đai được công bố năm 1976[23]. Khung đánh giá cho đất đai (FAO 1976) cho rằng “Đánh giá đất đai là quá trình so sánh, đổi chiếu những tính chất vốn có của vạt đẩt cần đánh giá với những tính chất của đất đai mà loại hình sử dụng đất yêu cầu phải có”[23].Khung nàylà 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một trong những phương pháp của FAO được sử dụng lâu dài và rộng rãi trong lĩnh vực tài nguyên đất đai và phát triển nông nghiệp.
Hơn 1/4 thế kỷ qua, phương pháp đánh giá đất theo FAO đã được triển khai thực hiện ở nhiều quốc gia trên thế giới, bao gồm Băng-la-đét (Brammer et al., 1988), Ha-mai-ca (FAO/UNEP 1994), Malaysia (Biot et al.