Chương 1: Huyện Thái Thụy và một số vấn đề về kinh tế nông nghiệp trước năm 2000 Chương 2: Quá trình lãnh đạo kinh tế nông nghiệp trong những năm 2000 – 2010 Chương 3: Một số nhận xét và những kinh nghiệm lịch sử 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 HUYỆN THÁI THỤY VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TRƢỚC NĂM 2000 1. Vài nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Thái Thụy Điều kiện tự nhiên Thái Thụy, một huyện ven biển của tỉnh Thái Bình, Thái Thụy không chỉ biết đến bởi những đặc sản của vùng biển mà còn được nhắc đến với 2 từ thân thuộc “quê lúa”. Trong chiến tranh, huyện Thái Thụy đã làm tốt vai trò của hậu phương lớn, chi viện cho chiến trường miền Nam. Đạt thành tích cao trong sản xuất nông nghiệp không những trong thời chiến, mà thời bình, huyện Thái Thụy còn tiếp tục phát huy truyền thống quê lúa, đạt nhiều thành tựu trong ngành sản xuất này.
Thái Thụy là huyện đồng bằng ven biển nằm ở vị trí Đông Bắc tỉnh Thái Bình, có tọa độ địa lý từ 20027’ độ vĩ Bắc, 106025’-106050’ độ kinh đông. Phía Đông giáp biển Đông, phía Nam và Đông Nam giáp huyện Tiền Hải, phía Tây Nam giáp huyện Kiến Xương, phía Tây giáp huyện Đông Hưng (Thái Bình), phía Tây Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ. Về phía Bắc, Thái Thụy giáp với các huyện của thành phố Hải Phòng là: huyện Vĩnh Bảo ở phía chính Bắc (ranh giới là sông Hóa), huyện Tiên Lãng ở phía Đông Bắc (ranh giới là đoạn cửa Thái Bình của sông Thái Bình). Phía Nam huyện có sông Trà Lý chảy men theo ranh giới với huyện Tiền Hải, đổ ra cửa Trà Lý.
Chính giữa huyện có con sông Diêm Hộ chảy qua theo hướng Tây - Đông, đổ ra cửa Diêm Hộ, chia huyện thành hai nửa gần tương đương về diện tích. Diện tích tự nhiên của huyện là 256,83km², bao gồm 47 xã và 1 thị trấn. Trung tâm của huyện là thị trấn Diêm Điền, Huyện có cảng Diêm Điền mở ra biển Đông, hướng về miền Nam Trung Quốc và các nước Đông Nam Á. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với vị trí địa lý thuận lợi, hệ thống giao thông thủy bộ phát triển tạo điều kiện cho huyện giao lưu, thông thương, trao đổi hàng hóa, thông tin kỹ thuật, tiếp thu thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến, có khả năng thu hút 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vốn đầu tư của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cho sự phát triển kinh tế xã hội, phát triển nền kinh tế đa dạng và có sự kết hợp lẫn nhau.
Nằm trong vùng đồng bằng châu thổ được bồi đắp bởi phù sa của 2 con sông lớn là sông: Thái Bình và Trà Lý, địa hình Thái Thụy có xu thế cao dần về phía biển. Giữa lưu vực có vùng trũng tập trung là Thái Hồng – Đồng 80 và rải rác những vùng đất bám hai bên sông Sinh, sông Phong Lẫm, sông Bà Đa (cao độ 0,3-0,5m). Trên dải đất dọc 27km bờ biển có vùng cao điển hình: Thụy Trường, Thụy Xuân, Thụy Hải, Thái Thượng, Thái Hòa, Thái Đô, Mỹ Lộc đặc biệt là vùng Bích Du, Sơn Thọ (cao độ 1,5-2m) đây là những vùng đất cát pha bạc màu, dinh dưỡng kém, độ chua mặn cao. Những vùng còn lại có địa hình tương đối bằng phẳng (cao độ 1-1,2m) rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp.
Đất ở đây chủ yếu là đất phù sa màu mỡ, phân bố trên địa hình khá bằng phẳng, thích hợp với việc trồng lúa nước, cây hoa màu, cây công nghiệp, cho năng suất cao, có khả năng thâm canh, tăng vụ. Huyện có diện tích đất tự nhiên rộng song lại có đặc điểm đất đai rất phức tạp và khó khăn hơn các huyện nội đồng. Đất chua mặn nhiều, có thể chia ra thành 3 miền khác nhau: khoảng 40% diện tích đất vùng ngọt, 35% diện tích đất vùng đệm, 25% diện tích đất phèn mặn. Địa hình đất đai cao trũng khác nhau có độ chênh lệch lớn, nên công tác thủy lợi tưới tiêu khó khăn.
Sự khác biệt về chất đất của huyện, không những là khó khăn, thử thách lớn đối với sản xuất nông nghiệp mà trái lại, huyện đã biến những khó khăn đó thành động lực, phát triển ngành nông nghiệp đa dạng với nhiều lĩnh vực, cây trồng, con vật nuôi mà không chỉ đơn thuần là sản xuất lúa. Do vậy công tác khai phá và cải tạo vùng đất này để phục vụ sản xuất nông nghiệp luôn là một yêu cầu cấp thiết, vô cùng quan trọng tới sự phát triển kinh tế nông nghiệp của huyện. Với kiểu khí hậu đặc trưng của vùng nhiệt đới ven biền Bắc bộ, chịu ảnh hưởng của gió mùa. Nhiệt độ Trung bình trong năm từ 22 – 240C, có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng (tháng 4- tháng 10) nhiệt độ trung bình 260C, mùa lạnh (tháng 11 – đến tháng 4 năm sau), nhiệt độ trung bình 210C.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giờ nắng trung bình 1500 – 1800 giờ, tổng nhiệt lượng cả năm khoảng 1600 – 1800 KCL/cm3/năm. Độ ẩm trung bình 86-87%. Lượng mưa trung bình 1788mm/năm, số ngày mưa trung bình 150 ngày/năm. Lượng mưa tập trung chủ yếu vào mùa hè (tháng 5- tháng 10), chiếm 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, trong đó tháng 2 và tháng 3 là thời kỳ mưa phùn ẩm ướt.
Gió thịnh hành ở đây là gió Đông Nam thổi từ tháng 4 đến tháng 9, mang theo không khí nóng, ẩm; gió Bắc thổi từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau mang theo không khí lạnh. Mùa đông, hiện tượng sương mù, sương muối, thời tiết thất thường gây tác hại xấu tới sản xuất nông nghiệp của huyện. Tuy nhiên, hàng năm phải chịu ảnh hưởng từ 4 - 6 trận bão và áp thấp nhiệt đới. Nhìn chung, sự phân hóa khí hậu theo mùa đã tạo cho huyện có một nền sản xuất nông nghiệp phong phú, đa dạng về cây trồng, vật nuôi và mùa vụ, tạo điều kiện cho cây trồng, con vật nuôi phát triển tốt.
Bên cạnh đó, huyện còn có hệ thống sông ngòi chằng chịt với 3 con sông chính là: Sông Hóa, sông Diêm Hộ và sông Trà Lý. Sông Hoá chảy qua phía Bắc của huyện, là ranh giới tự nhiên giữa huyện Thái Thụy và huyện Vĩnh Bảo - Hải Phòng đổ ra biển Ở cửa Thái Bình. Sông Diêm Hộ chảy từ Tây sang Đông chia huyện thành 2 khu: Khu bắc và khu Nam, đổ ra biển ở cửa Diêm Điền. Sông Trà Lý là chi lưu của sông Hồng, chạy qua phần phía Nam huyện, phân định ranh giới giữa huyện Thái Thụy với huyện Tiền Hải và Kiến Xương, đổ ra biển ở cửa Trà Lý.
Ngoài ra huyện còn có các con sông nhỏ như sông Hoàng Nguyên, sông chợ Cổng, sông Cái, sông Sinh… và hệ thống kênh mương thủy lợi dày đặc. Các hệ thống sông này có nước chảy quanh năm, rất thuận lợi cho nguồn nước tưới và thau chua rửa mặn cho các cánh đồng trong huyện, tiêu nước trong mùa mưa, tạo thuận lợi phát triển nông nghiệp. Mặt khác, lượng 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phù sa đổ ra biển hàng năm ở cửa sông tạo ra bãi bồi rộng lớn ven biển là thế mạnh cho phát triển nông-lâm-ngư nghiệp. Diện tích mặt nước ở ao, hồ, sông là nơi nuôi trồng thủy hải sản.
Như vậy, có thể nói Thái Thụy là huyện có điều kiện tự nhiên khá điển hình và thuận lợi cho việc phát triển kinh tế nông nghiệp. Tuy nhiên do có sự phân hóa về khí hậu và chế độ thủy văn theo mùa đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sản xuất kinh tế nông nghiệp của nhân dân địa phương. Mùa hè lượng mưa lớn, mực nước các sông lên cao trong khi các cửa sông đổ ra biển có độ dốc nhỏ, nước tiêu chậm, gây úng lụt cục bộ ở một số diện tích canh tác ở ngoài đê. Ảnh hưởng của nhiều trận bão trong năm gây thiệt hại đến đời sống, sản xuất.
Mùa đông, lượng mưa ít, mực nước sông thấp, nước mặn theo thủy triều xâm lấn vào sâu trong nội địa gây ra tình trạng nhiễm mặn, khó khăn cho việc canh tác, sản xuất nông nghiệp. Do đó, Đảng bộ và các cấp lãnh đạo trong huyện cần có những chủ trương, chính sách và có những biện pháp cụ thể, hữu hiệu để khai thác tốt các điều kiện tự nhiên phục vụ đời sống sản xuất của nhân dân. Bên cạnh những tiềm năng về điều kiện tự nhiên, Thái Thụy còn là huyện có nguồn tài nguyên phong phú của vùng biển như: Thái Thụy có 1.552,3 ha rừng ngập mặn, tập trung ở các xã ven biển, rừng ở đây chủ yếu là rừng phi lao có tác dụng lớn trong phòng hộ đê biển, điều hoà khí hậu, thuận lợi cho việc lắng đọng phù sa và có giá trị lớn về cảnh quan môi trường, bảo tồn hệ sinh thái ngập nước ven biển. Đây là nơi thích hợp cho việc nuôi ong, nuôi trồng thủy hải sản và cũng là nơi có ý nghĩa quan trọng về mặt quốc phòng, an ninh.
Không những thế, với đường bờ biển dài 27km và hàng chục nghìn km2 lãnh hải, có 3 cửa sông lớn hàng năm đổ ra biển một lượng phù sa lớn. Vùng biển Thái Thụy có một tiềm năng hải sản phong phú. Theo số liệu điều tra của Viện nghiên cứu Hải sản 1, trong vùng biển Thái Thụy có ít nhất 46 loài cá có giá trị kinh tế cao, 10 loài tôm, 5 loài mực,. Bãi biển ven cửa sông lớn, vùng nước lợ trong đê có nhiều loài hải sản có giá trị kinh tế cao như: tôm, cua, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cá, rong câu,.
đang được quan tâm phát triển. Tài nguyên biển có ý nghĩa rất lớn trong việc phát triển kinh tế xã hội của huyện vì vậy cần có chính sách đầu tư, sử dụng, khai thác hợp lý và có hiệu quả nguồn tài nguyên này. Ngoài ra, ở huyện còn có mỏ dầu khí, hiện đang được thăm dò và khai thác tại xã Thụy Xuân, Thụy Trường; huyện cũng đang đầu tư xây dựng nhà máy nhiệt điện lớn nhất miền bắc đó là nhà máy nhiệt điện Mỹ Lộc (đặt tại xã Mỹ Lộc), xây dựng cảng Trà lý để mở rộng giao lưu và buôn bán. Bên cạnh đó huyện còn có khu rừng sinh thái ngập mặn ven biển ở xã Thái Đô – Thái Thượng đây được coi là khu dự trữ sinh quyển thế giới là điều kiện vô cùng thuận lợi để huyện phát triển ngành du lịch.