Chương 1: Chủ trương và sự chỉ đạo xây dựng Tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ Tỉnh Hà Nam (2001 - 2005). Chương 2: Đấy mạnh xây dựng tổ chức cơ sở Đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam (2006-2011). Chương 3: Nhận xét và một số kinh nghiệm. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CHỦ TRƢƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG CỦA ĐẢNG BỘ TỈNH HÀ NAM (2001 - 2005) 1.
Những nhân tố tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng của Đảng bộ tỉnh Hà Nam 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của Hà Nam tác động đến công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng * Điều kiện tự nhiên Tỉnh Hà Nam, có bề dày lịch sử trên 120 năm, là mảnh đất giàu truyền thống văn hiến và cách mạng. Tỉnh Hà Nam, nằm trong vùng đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ. Năm 1997, tỉnh Hà Nam được tái lập, có 05 huyện và 01 thị xã (nay là thành phố) trực thuộc tỉnh với 116 xã, phường, thị trấn (có 15 xã miền núi).
Hà Nam có diện tích là 859,5 km², phía Bắc giáp với thủ đô Hà Nội, phía Đông giáp với tỉnh Hưng Yên, tỉnh Thái Bình, phía Nam giáp với tỉnh Ninh Bình, Đông Nam giáp tỉnh Nam Định, phía Tây giáp tỉnh Hòa Bình. Hà Nam có điều kiện thời tiết, khí hậu mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng và ẩm ướt. Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23-24 độ C, số giờ nắng trung bình 1300 -1500 giờ/năm, lượng mưa trung bình khoảng 1900mm, độ ẩm trung bình hàng năm 85%. Tỉnh Hà Nam có địa hình thấp dần từ Tây sang Đông, Phía Tây của tỉnh là vùng đồi núi bán sơn địa với các dãy núi đá vôi với một số hang động thạch nhũ, núi đất và đồi rừng, nhiều nơi có địa hình dốc.
Phía Đông tỉnh là đồi đất thấp xen lẫn núi đá và chủ yếu là đồng bằng do phù sa bồi tụ từ những dòng sông lớn chiếm khoảng 85-90% diện tích của tỉnh. Tỉnh Hà Nam, có một số loại khoáng sản như: than bùn, đá vôi xi măng, sét xi măng, đôlômít, đá vôi hóa chất, đá vôi xây dựng. Mạng lưới giao thông của tỉnh Hà Nam được đánh giá là khá thuận lợi cho giao lưu, phát triển kinh tế - văn hóa với bên ngoài và trong nội tỉnh bởi địa phận tỉnh nằm trên huyết mạch giao thông Bắc - Nam 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com với tuyến đường sắt, đường bộ, đường thủy. Trên địa bàn tỉnh Hà Nam có các quốc lộ đi qua như: quốc lộ 1A, quốc lộ 21A, quốc lộ 21B, quốc lộ 38, đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình; các tuyến đường nối các thị trấn với nhau và các thị trấn với thành phố Phủ Lý đều là đường nhựa với quy mô từ 2 làn đến 4 làn xe ô tô; hệ thống giao thông nông thôn của tỉnh đã được đổ nhựa hoặc bê tông nên khá thuận lợi cho việc đi lại giữa các vùng trong tỉnh, nối liền Hà Nam với các tỉnh khác.
Giao thông đường thủy của tỉnh cũng khá phát triển do có nhiều con sông lớn chảy qua địa phận Hà Nam như sông Hồng, sông Đáy, sông Châu Giang, sông Nhuệ,… * Điều kiện kinh tế - xã hội Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Hà Nam có 785.057 người, chiếm 5,6% dân số đồng bằng sông Hồng, mật độ dân cư là 954 người/km², 91,5% dân số sống ở nông thôn, 8,5% dân số sống ở khu vực đô thị. Theo thống kê mới nhất, tổng số người có hộ khẩu thường trú là 846. Trình độ kinh tế, dân trí và trình độ văn hóa xã hội của dân cư phát triển khá cao, thu nhập và đời sống của đa số dân cư đã được cải thiện và nâng cao đáng kể. Đặc điểm nổi trội của cư dân và nguồn lực con người Hà Nam là truyền thống lao động cần cù, vượt lên mọi khó khăn để phát triển sản xuất, là truyền thống hiếu học, ham hiểu biết, tinh thần đoàn kết, tính cộng đồng cao, giàu lòng nhân ái, mến khách và giàu sức sáng tạo trong phát triển kinh tế, mở mang văn hóa xã hội.
Đây là một nguồn lực đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Về trình độ dân trí, tính đến hết năm 2002 đã phổ cập giáo dục tiểu học cho 6 huyện, thị xã với số xã là 116 xã, phường, thị trấn, trong đó số xã miền núi có 15 xã chiếm 12,7%; tỷ lệ người biết chữ chiếm 96%. Số học sinh phổ thông năm học 2002-2003 là 76.024 em; số giáo viên toàn tỉnh là 3.253 người chủ yếu là dân tộc kinh. Số thầy thuốc có 1.723 người; bình quân số y, bác sĩ trên 1 vạn dân là 4,4 người, trong đó y, bác sĩ là người dân tộc thiểu số chiếm 0,12% [63].
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên địa bàn tỉnh có 27 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 792.130 người, chiếm 99%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 285 người, chiếm 0,03%; dân tộc Ngái có 136 người, chiếm 0,01%; dân tộc Thái có 115 người, chiếm 0,01%; các dân tộc khác chiếm 0,05% (theo số liệu điều tra dân số tháng 4 năm 2009). Về tôn giáo, tỉnh Hà Nam có ba tôn giáo chính: đạo Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Tin lành. Hiện nay, trên toàn tỉnh có 491 chùa, 230 vị tăng ni, số tín đồ 64.164 người, đạo Thiên Chúa có khoảng 101.000 giáo dân, đạo Tin lành có 193 nhân khẩu [40], thực hiện tốt công tác tôn giáo, xem xét, giải quyết kịp thời nhu cầu chính đáng, hợp pháp của các tổ chức và cá nhân theo quy định, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân, góp phần ổn định tình hình trên địa bàn. Tuy nhiên, một số hoạt động tín ngưỡng và lợi dụng tôn giáo có thời điểm còn diễn biến phức tạp.
Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh có sự chuyển dịch tốt về cơ cấu kinh tế, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp đang trên đà phát triển. Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phát triển, đạt tốc độ tăng trưởng cao, có chuyển biến về cơ cấu sản xuất, quy mô và chất lượng. Sản xuất vượt qua nhiều khó khăn về thời tiết và dịch bệnh, mô hình xây dựng nông thôn mới bước đầu đạt hiệu quả. Về tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh: Giai đoạn 2003 - 2012, Hà Nam luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Bình quân 10 năm (2003 - 2012), kinh tế Hà Nam tăng trưởng 12,12%, trong đó giai đoạn 2006 - 2010 tăng 13,2%. Năm 2012, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) gấp 3,14 lần năm 2003. 6 tháng đầu năm 2013, GDP tăng 10,1% so với cùng kỳ năm 2012; phấn đấu GDP năm 2013 tăng 10,9% so với năm 2012. Thu nhập bình quân đầu người năm 2012 là 26 triệu đồng, gấp 6,8 lần so với năm 2003; phấn đấu năm 2013 là 30,55 triệu đồng, tăng 19,2% so với năm 2012.
Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực. Năm 2003, cơ cấu kinh tế là: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 33,7%, công nghiệp - xây dựng 34,5%, dịch vụ 31,8%. Năm 2012, cơ cấu kinh tế là: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 18,4%, công nghiệp - xây dựng 51,3%, 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dịch vụ 30,3%; mục tiêu hết năm 2013, cơ cấu chuyển dịch như sau: Nông, lâm nghiệp, thủy sản 17,1%, công nghiệp - xây dựng 52,2%, dịch vụ 30,7%.Thu ngân sách đạt kết quả tốt, năm 2005 đạt 340,5 tỷ đồng, năm 2010 đạt 1.200 tỷ đồng, năm 2012 đạt 1.853 tỷ đồng [59, tr. Hà Nam là một trong những tỉnh có mạng lưới cơ sở y tế, giáo dục, văn hóa và phúc lợi xã hội phát triển.
Về giáo dục, hiện nay, có khoảng 56,3% tổng số trường được công nhận trường chuẩn quốc gia (228/405 trường), trong đó có 50/120 trường mầm non, 131/140 trường tiểu học, 41/120 trường trung học cơ sở,6/25 trường trung học phổ thông đạt chuẩn Quốc gia; 75% số phòng học được kiên cố hoá [10, tr. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề trên địa bàn được mở rộng nâng cấp; tổ chức liên kết đào tạo, từng bước đáp ứng yêu cầu đào tạo và nhu cầu học tập nâng cao tay nghề của người lao động. Trên địa bàn tỉnh Hà Nam có các trường: Đại học Hà Hoa Tiên, Cao đẳng Sư phạm Hà Nam, Cao đẳng Phát thanh - Truyền hình Trung ương I, Cao đẳng Y tế, Cao đẳng Thuỷ lợi Bắc bộ và một số trường trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Chất lượng giáo dục toàn diện có nhiều chuyển biến, tiến bộ rõ rệt, nhất là trí dục.
Về y tế, trên địa bàn tỉnh hiện có 12 bệnh viện, 04 phòng khám khu vực và 116 trạm y tế xã/phường thuộc hệ thống nhà nước và hàng trăm cơ sở khám chữa bệnh đông y, khám chữa bệnh tư nhân, cơ sở, đại lý bán thuốc phục vụ chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân. Tổng số y, bác sĩ hiện có khoảng 980 người. Hàng năm đã khám, điều trị cho hàng trăm nghìn lượt người, đảm bảo làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân, không có dịch bệnh lớn xảy ra trên địa bàn. Hệ thống y tế từ tỉnh đến cơ sở tiếp tục được đầu tư, phát triển cả về nhân lực và trang thiết bị y tế, cơ bản đáp ứng được yêu cầu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân địa phương và góp phần giảm tải cho bệnh viện tuyến trên.
Các chương trình y tế được triển khai kịp thời, thực hiện có hiệu quả, không để xảy ra dịch bệnh và ngộ độc thực phẩm lớn trên địa bàn. Đến năm 2012, có 91,3% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về y tế xã, 72,4% trạm y tế xã có bác sỹ, 88,8% trạm y tế xã khám chữa bệnh bảo hiểm y tế. Công tác thông tin, phát thanh, truyền hình có nhiều đổi mới về nội dung và phương pháp hoạt động, đóng góp tích cực vào việc đưa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, của tỉnh nhanh chóng đi vào cuộc sống. Phong trào rèn luyện thân thể, thực hiện nếp sống mới trong việc cưới, việc tang, lễ hội được đông đảo nhân dân, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp hưởng ứng.
Các chính sách xã hội, chính sách đối với người có công, thực hiện mục tiêu giảm nghèo được triển khai kịp thời, nghiêm túc, đúng đối tượng, có hiệu quả. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 9,7% (năm 2012).