Ọ QUỐ N TRƢỜN Ọ O Ọ V N NV N ================== NGUYỄN THỊ HIỀN ÔN TÁ ÁN N VỚ P Ụ NỮ BỊ B O LỰ ÌN T P ƢỜN O N ,T N P Ố LON , TỈN QUẢN NN LUẬN V N T SĨ ÔN TÁ I Chuyên ngành: Công tác xã hội HÀ N I – 2018 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ọ QUỐ N TRƢỜN Ọ O Ọ V N NV N ================== NGUYỄN THỊ HIỀN ÔN TÁ ÁN N VỚ P Ụ NỮ BỊ B O LỰ ÌN T P ƢỜN O N ,T N P Ố LON , TỈN QUẢN NN Chuyên ngành: Công tác xã hội Mã số : 60.01 LUẬN V N T SĨ ÔN TÁ I Ngƣời hƣớng dẫn khoa hoc: PGS. Nguyễn Thị Kim Hoa HÀ N I – 2018 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LỜ M O N Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, đƣợc thực hiện dƣới sự hƣớng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Thị Kim Hoa. Các nội dung và số liệu nghiên cứu đƣợc trình bày trong luận văn này trung thực. Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
Hà Nội, ngày 05 tháng 6 năm 2018 Học viên Nguyễn Thị Hiền TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com LỜ ẢM ƠN Trong quá trình làm luận văn, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Phó Giáo sƣ -Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Hoa là ngƣời trực tiếp hƣớng dẫn, giúp đỡ tôi nhiệt tình trong suốt quá trình thực hiện. Tôi cũng xin cảm ơn tất cả các thầy, cô trong Khoa Xã hội học, Trƣờng Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền tải kiến thức và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi đƣợc học tập và thực hiện luận văn. Tôi trân trọng cảm ơn lãnh đạo Sở LĐTBXH tỉnh Quảng Ninh, UBND thành phố Hạ Long, UBND phƣờng Cao Xanh, Hội LHPN thành phố Hạ Long, Hội LHPN phƣờng Cao Xanh cùng tất cả những ngƣời tôi đã gặp trong quá trình tìm kiếm thông tin để hoàn thành luận văn. Mặc dù đã rất cố gắng, song với kinh nghiệm công tác xã hội trực tiếp của bản thân còn hạn chế sẽ không tránh khỏi những thiếu sót.
Kính mong các thầy, cô giáo, các đồng nghiệp và các bạn tham gia góp ý, tôi xin nghiêm túc tiếp thu, điều chỉnh để Đề tài nghiên cứu này đóng góp hiệu quả cao trong thực tiễn. Tôi xin trân trọng cảm ơn! TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com MỤ LỤ LỜI CAM ĐOAN. 4 DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT. Lý do chọn đề tài can thiệp.
Mục tiêu và nhiệm vụ can thiệp. Đối tƣợng, khách thể, phạm vi can thiệp. Câu hỏi và giả thuyết can thiệp. Phƣơng pháp can thiệp.
Tổng quan tình hình nghiên cứu. 10 PHẦN NỘI DUNG. 19 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI PHỤ NỮ BỊ BẠO LỰC GIA ĐÌNH. Các khái niệm công cụ.
Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu. Tình hình bạo lực gia đình. Tình hình bạo lực gia đình tại Việt Nam. Tình hình bạo lực gia đình tại Quảng Ninh.
Tình hình phụ nữ bị bạo lực gia đình ở phƣờng Cao Xanh. Các biện pháp can thiệp của địa phƣơng. Khái quát về địa bàn nghiên cứu:. 44 Tiểu kết chƣơng 1:.
47 CHƢƠNG 2: ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN TRONG VIỆC TRỢ GIÚP PHỤ NỮ BỊ BẠO HÀNH GIA ĐÌNH. Mô tả thân chủ. Tiến trình thực hành công tác xã hội cá nhân. Tiếp cận thân chủ:.
Nhận diện vấn đề:. Thu thập thông tin. 50 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lập kế hoạch để giải quyết vấn đề của thân chủ.
Triển khai các hoạt động. Lƣợng giá và kết thúc. Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình can thiệp và biện pháp khắc 66 2. Bài học kinh nghiệm.
67 Tiểu kết chƣơng 2. 71 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 73 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 78 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BBĐG: Bất bình đẳng giới BĐG: Bình đẳng giới BL: Bạo lực BLGĐ: Bạo lực gia đình CLB: Câu lạc bộ CTXH: Công tác xã hội GĐ: Gia đình LHQ: Liên Hợp Quốc NC: Nghiên cứu NVCTXH: Nhân viên công tác xã hội NVXH: Nhân viên xã hội PCBLGĐ: Phòng chống bạo lực gia đình PN: Phụ nữ TC: Thân chủ TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com MỞ ẦU 1.
LÝ DO ỌN Ề T NT ỆP Gia đình là đơn vị thu nhỏ của một xã hội, là cái nôi đầu tiên nuôi dƣỡng nhân cách và tâm hồn của mỗi con ngƣời. Nơi đó, các thành viên trong gia đình đƣợc gắn bó với nhau bởi các mối quan hệ tình cảm, quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống, quan hệ nuôi dƣỡng và hoặc quan hệ giáo dục [4]. Họ đón nhận đƣợc sự chăm sóc, yêu thƣơng và an toàn khi họ có một mái ấm gia đình hạnh phúc. Gia đình hạnh phúc là một trong những nhân tố quan trọng nhất của một quốc gia.
Nó không những là một “tế bào khỏe mạnh” liên kết với các tế bào khỏe mạnh khác làm nên yếu tố cơ bản của một quốc gia mà còn làm cho xã hội của đất nƣớc đó phát triển bền vững và miên viễn. Để duy trì đƣợc sức mạnh của một quốc gia, các tế bào khỏe mạnh kia luôn luôn phải đƣợc phát triển và lây lan. Đây quả thực là một vấn đề thách thức vì ở đâu đó trong bất cứ xã hội nào và đặc biệt là xã hội Việt Nam hiện đai, vẫn có các cuộc bạo hành trong gia đình đang diễn ra. Có thể nói cuộc sống của một số thành viên trong các gia đình có cƣờng độ bạo lực cao đƣợc coi là “địa ngục trần gian” - tràn đầy đau khổ và bất hạnh.
Chúng ta, hầu nhƣ, ai cũng biết rằng, bạo lực trong gia đình không những làm tổn thƣơng tới thể lý và tâm lý cho con ngƣời mà còn làm ảnh hƣởng sâu xa đến cuộc sống cũng nhƣ kéo theo các hệ lụy khác cho tất cả những ngƣời xung quanh. Nó chắc chắn cũng sẽ gây ra nhiều hậu quả phức tạp khác cho xã hội. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực trong gia đình đối với ngƣời phụ nữ. Song theo những nghiên cứu của Lê Thị Quý, một trong những chuyên gia nghiên cứu về giới tính và gia đình, qua bài viết có tựa đề "Bạo lực gia đình ở Việt Nam", đăng trong Tạp chí Khoa học và Phụ nữ năm 1994, đã xác định đƣợc năm nguyên nhân chính của nạn bạo lực trong gia đình là: vấn đề kinh tế, sự nhận thức, tập quán văn hóa - xã hội, sức khỏe và khía cạnh phụ nữ.
Tuy nhiên theo tác giả thì nguyên nhân lớn nhất, sâu xa nhất chính là sự bất bình đẳng trong quan hệ giới [2]. 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đứng trên bình diện quốc gia, ở Việt Nam vấn đề bạo lực gia đình (BLGĐ) đang là vấn đề thách thức của cá nhân cũng nhƣ của xã hội. Nó nhận đƣợc sự quan tâm nhiều hơn, từ cộng đồng, khi càng ngày càng có nhiều vụ BLGĐ đƣợc phát hiện. Theo báo cáo của một nghiên cứu quốc gia về BLGĐ đối với phụ nữ ở Việt Nam đƣợc Chính phủ Việt Nam và Liên Hợp Quốc công bố năm 2010: cứ ba phụ nữ (PN) có gia đình hoặc đã từng có gia đình thì có một ngƣời (34%) cho biết họ đã từng bị chồng mình bạo hành thể xác hoặc tình dục.
Số phụ nữ có hoặc từng có gia đình hiện đang phải chịu một trong hai hình thức bạo hành này chiếm 9%. Nếu xem xét đến cả ba hình thức bạo hành chính trong đời sống vợ chồng - thể xác, tình dục và tinh thần - thì có hơn một nửa (58%) phụ nữ Việt Nam cho biết đã từng là nạn nhân của ít nhất một hình thức bạo lực gia đình kể trên. Các kết quả nghiên cứu cũng cho thấy khả năng phụ nữ bị chồng mình lạm dụng nhiều hơn gấp ba lần so với khả năng họ bị ngƣời khác lạm dụng. Theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trung bình một năm trên cả nƣớc có tới 8.000 vụ ly hôn mà nguyên nhân do bạo lực gia đình.
Cũng theo số liệu thống kê của bệnh viện, các trung tâm, phòng cấp cứu lớn của cả nƣớc, có hơn 27% phụ nữ bị ngƣợc đãi nhập viện, hơn 10% điều trị y khoa nghiêm trọng hằng năm do nguyên nhân bạo lực gia đình [35] Ở góc độ của một tỉnh, theo báo cáo của Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch Quảng Ninh, từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2018 trên toàn tỉnh đã xảy ra là 1.769 vụ BLGĐ, trong đó có 112 vụ đƣa ra tòa án xét xử, 31 trƣờng hợp bị áp dụng biện pháp cấm tiếp xúc, 29 trƣờng hợp bị xử phạt hành chính và 5 trƣờng hợp bị xử lý hình sự. Những năm gần đây, trung bình một năm có từ 250 đến 350 vụ BLGĐ trong đó hình thức bạo lực tinh thần là 47%; bạo lực thân thể chiếm 41%; bạo lực tình dục chiếm 3%, bạo lực kinh tế chiếm 9%. Đối tƣợng gây bạo lực đa số là đàn ông, nạn nhân thƣờng là phụ nữ và trẻ em [36]. Từ những con số trên của các bản nghiên cứu và báo cáo, nó cho thấy, bạo lực gia đình cho dù diễn ra dƣới bất cứ hình thức nào, thì hậu quả của nó cũng hết sức nghiêm trọng.
Nó không chỉ ảnh hƣởng đến thể chất, sức khoẻ, tinh 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thần… của ngƣời PN mà còn ảnh hƣởng đến hạnh phúc gia đình và tạo nên các hành vi lệch chuẩn của trẻ em trong tƣơng lai, là nguyên nhân, có thể, đẩy nhiều gia đình đến bờ vực thẳm của đổ vỡ và tù đày. Nạn nhân của bạo lực gia đình phải chịu đựng nhiều hình thức bạo hành từ bị nhục mạ, bị khủng hoảng về tâm lý kéo dài, tổn thƣơng tinh thần, ảnh hƣởng đến sức khoẻ, thậm chí thiệt hại đến tính mạng, tài sản. Những gia đình có bạo hành thƣờng để lại di chứng nặng nề cho con cái của họ. Trẻ em gái thƣờng rất mặc cảm trƣớc mọi ngƣời, không thích giao tiếp, không tự tin trong cuộc sống, luôn có tƣ tƣởng bỏ học, không dám kết thân với ngƣời khác, nếu tình trạng bạo lực gia đình kéo dài sẽ khiến các em dần rơi vào trạng thái lãnh cảm.
Trẻ em trai thì trở nên ƣơng bƣớng, khó bảo, thích gây gổ với ngƣời khác, học hành kém và rất nhiều trong số đó đã trở nên hƣ hỏng.