CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP VÀ CƠ SỞ XÃ HỘI CỦA HOẠT ĐỘNG LẬP PHÁP 1. Khái niệm hoạt động lập pháp và cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp 1. Khái niệm hoạt động lập pháp Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra rằng: nguồn trực tiếp của các hoạt động có ý chí của con người là các nhu cầu, lợi ích đã được nhận thức dưới dạng động cơ thúc đẩy sự thể hiện ý chí bên ngoài, trong hoạt động sống của họ. Do đó, hoạt động lập pháp - một hoạt động đưa ý chí của giai cấp thống trị lên thành luật là một quá trình nhận thức các lợi ích nhất định của giai cấp đó.
Là một phạm trù mang tính giai cấp, nên vấn đề lập pháp luôn là tâm điểm của sự chú ý trong lịch sử các học thuyết chính trị Đông - Tây từ cổ chí kim,. Bước ngoặt trong tư tưởng về hoạt động lập pháp được đánh dấu bởi C. Montesquieu (1689 - 1775) - nhà Khai sáng người Pháp - khi ông cho ra đời thuyết "tam quyền phân lập" - học thuyết có mục đích hạn chế sự lạm quyền bằng cách phân chia quyền lực nhà nước thành các nhánh quyền có tác dụng kiềm chế, đối trọng lẫn nhau. Trong đó, quyền lập pháp được giao cho nghị viện, hành pháp cho chính phủ và tư pháp cho tòa án.
Cho đến nay, tuy được tiếp thu và vận dụng ở những mức độ khác nhau tại mỗi quốc gia, nhưng học thuyết này vẫn còn tiếp tục có giá trị về phương diện tổ chức quyền lực nhà nước, ở đó, ý tưởng lập pháp phải là chức năng cơ bản và tiêu biểu trong hoạt động của nghị viện (hoặc QH) mỗi nước là điều đến nay đã được thừa nhận và khẳng định. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Bàn về khái niệm "lập pháp", người ta hay nhắc đến nó với ý nghĩa như một chức năng hay một quyền hoặc một nhánh quyền lực. Trong khi đó, thuật ngữ "hoạt động lập pháp" được sử dụng đến không phải ít nhưng lại chưa có ai làm rõ nội hàm của nó cũng như tìm cách phân biệt nó với các thuật ngữ khác như "chức năng lập pháp", hoặc "quyền lập pháp". Để làm rõ vấn đề này, trước hết cần xem xét nó dưới nhiều phương diện.
Dưới phương diện triết học, hoạt động lập pháp là một hoạt động thuộc kiến trúc thượng tầng, thuộc ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển lịch sử xã hội nhất định, do đó nó vừa chịu sự quyết định của tồn tại xã hội, vừa có mối quan hệ độc lập tương đối với phạm trù này. Đồng thời, nó cũng có mối quan hệ biện chứng, chặt chẽ với các yếu tố, hiện tượng xã hội khác. Dưới góc độ lý luận, "hoạt động lập pháp là một quá trình nhận thức hiện thực khách quan trên cơ sở tiếp cận một cách biện chứng, xử lý theo một trật tự tư duy lô gích các quan hệ mang tính chung, mang tính phổ biến và bằng một quy trình tổ chức khoa học mang tính pháp lý, tái hiện hiện thực khách quan thành các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung"1. Dưới khía cạnh pháp lý, theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên)2, lập pháp là "định ra pháp luật".
Như vậy, hiểu theo cách này thì, lập pháp là làm ra pháp luật nói chung, tức là làm ra các văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bao gồm QH, Chính phủ…) ban hành. Tuy nhiên, cách hiểu này chỉ mang tính lịch sử khi nhà nước phát triển ở một trình độ nào đó, chưa có các thiết chế nhà nước được tổ chức chặt chẽ và ở một trình độ cao như QH, Chính phủ, Tòa án và các thiết chế tổ chức quyền lực khác như hiện nay. Ngày nay, lập pháp "là một trong ba chức năng 1 [40, tr. 2 [33] 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com của nhà nước, cùng với quyền hành pháp và tư pháp hợp thành quyền lực nhà nước"3.
Khi đã hiểu lập pháp là hoạt động gắn liền với Nghị viện (hoặc QH), thì các sản phẩm của nó phải là các văn bản pháp luật do Nghị viện (hoặc QH) ban hành. Ở Việt Nam, sản phẩm của hoạt động lập pháp bao gồm: Hiến pháp, luật, nghị quyết của QH, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ QH. Cũng cần phải nhấn mạnh rằng, hoạt động lập pháp không đồng nghĩa với chức năng lập pháp, quyền lập pháp, hoặc quy trình lập pháp bởi mỗi khái niệm này chứa một nội hàm và ý nghĩa khác nhau. Chức năng lập pháp là một trong những phương diện, một loại hoạt động cơ bản của Nhà nước, gắn liền với chủ thể duy nhất là QH, nhằm phân biệt với hai chức năng còn lại của nhà nước (chức năng hành pháp và chức năng tư pháp).
Quyền lập pháp nhấn mạnh đến một nội dung cơ bản mang tính hiến định trong địa vị pháp lý của QH (là QH) và cũng nhằm phân biệt với các nhánh quyền hành pháp và quyền tư pháp. Trong khi đó, quy trình lập pháp hàm ý trình tự, thủ tục theo luật định để tiến hành xây dựng các văn bản pháp luật do QH ban hành. Hoạt động lập pháp còn được định nghĩa như sau: "Hoạt động lập pháp là những hoạt động liên tục, kế tiếp nhau từ việc xác định chính sách, xây dựng chính sách pháp lý tới việc thể hiện, thảo luận, thông qua và công bố luật, pháp lệnh, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong mọi lĩnh vực của đời sống, phù hợp với chủ trương của Đảng và ý chí, nguyện vọng của nhân dân"4.31] 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tuy nhiên, để có một định nghĩa khái quát hơn, đồng thời, vẫn thể hiện được bản chất và đặc điểm của hoạt động lập pháp, chúng tôi xin được định nghĩa về hoạt động lập pháp như sau: Hoạt động lập pháp là một hình thức hoạt động cơ bản của Nhà nước do nhiều chủ thể khác nhau - trong đó QH là chủ thể quan trọng và quyết định - tiến hành theo một trình tự, thủ tục chặt chẽ do luật định, trên cơ sở một quá trình nhận thức và cân nhắc toàn diện các quy luật xã hội, các quy luật lợi ích, ý chí của nhân dân nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội quan trọng và cơ bản nhất dưới dạng các văn bản quy phạm pháp luật của QH. Khái niệm cơ sở xã hội của hoạt động lập pháp 1.
Vài nét về tư tưởng về cơ sở xã hội của pháp luật trong lịch sử Trong lịch sử các học thuyết chính trị5, ý tưởng xem xét pháp luật, hoạt động lập pháp trong những điều kiện nhất định về kinh tế, xã hội, tuân theo các qui luật riêng biệt và những "điều kiện bên ngoài thích hợp" đã được quan tâm từ rất sớm. Hêrôđốt (484 - 425 TCN) - nhà sử học đầu tiên của Hy Lạp, người được coi là "nhà sử học đầu tiên của phương Tây" - cho rằng, môi trường tự nhiên ảnh hưởng trực tiếp đến phong tục tập quán, tính nết và thậm chí cả cách cai trị… Arixtốt (384 - 322 TCN) - triết gia Hy Lạp, người được Các Mác gọi là "nhà tư tưởng vĩ đại nhất của thời cổ đại" - ngay từ thế kỷ thứ IV trước công nguyên đã có những tổng kết và phát triển tài tình các kết luận về nguồn gốc và bản chất, hình thức và vai trò của nhà nước và pháp quyền. Trong tác phẩm "Chính trị", ông đã trình bày dự thảo về một nhà nước lý tưởng với các tiền đề kinh tế - xã hội và địa lý cho chính thể mẫu mực đó. Ông cho rằng "thiết chế nhà nước tốt nhất không thể nảy sinh thiếu những điều kiện bên ngoài thích 5 [21] 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Do vậy, ông đặc biệt coi trọng vị trí của nhà nước, phạm vi và hình thế lãnh thổ, khí hậu. Các tư tưởng về ảnh hưởng của các yếu tố địa lý đối với đời sống chính trị của ông chính là những tiền đề cho sự phát triển tiếp theo trong lý thuyết về vấn đề này của các học giả các thời kỳ sau. Sang đến thời kỳ cách mạng tư sản, tư tưởng của Arixtốt mới được tiếp nối một cách có hệ thống. Giăng Boden (1530 - 1596), học giả người Pháp, khi vận dụng những tư tưởng chính trị - xã hội lĩnh hội từ Arixtốt, đã phát triển những quan điểm mới về vai trò của địa lý trong việc tổ chức các thiết chế xã hội - chính trị.
Tuy nhiên, học thuyết về vai trò của các yếu tố bên ngoài đối với tinh thần pháp luật chỉ trở nên có giá trị và thật sự tạo nên dấu ấn sâu đậm trong lịch sử các học thuyết chính trị pháp lý khi được C. Montesquieu đề cập tới trong tác phẩm Tinh thần pháp luật của mình. Với khuynh hướng coi sự xuất hiện của nhà nước và pháp luật có tính lịch sử, ông cho rằng sự phong phú của các đạo luật và thể chế không phải là kết quả của sự tùy tiện, hoang tưởng của con người, mà gắn liền với hoàn cảnh lịch sử cụ thể. "Tôi đã xác định được những cơ sở chung ban đầu, và thấy rằng các trường hợp riêng lẻ dường như phụ thuộc vào chúng, và lịch sử của mỗi dân tộc xuất phát từ đó như hệ quả, và mỗi một qui luật riêng biệt gắn liền với qui luật khác hay phụ thuộc vào qui luật khác, có tính khái quát hơn".
Ông cũng cho rằng pháp luật ở mỗi quốc gia có quan hệ mật thiết với vị trí địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, cảnh quan, phạm vi lãnh thổ) và phong tục tập quán (hay diện mạo đạo đức) của dân tộc đó6. Tuy nhiều điểm còn bàn cãi (như tuyệt đối hóa vai trò của môi trường địa lý), nhưng những tư tưởng của ông là những gợi ý rất có giá trị về vai trò của các yếu tố xã hội đến "tinh thần pháp luật", cũng như yêu cầu phải xem 6 [28] 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xét pháp luật trong mối liên hệ chặt chẽ với các mặt đời sống xã hội khác nhau của nó, tạo nền móng ban đầu cho việc hình thành nên một môn khoa học mới - xã hội học pháp luật7. Chủ nghĩa Mác - Lênin, với quan điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, và luận điểm về "tính quyết định luận xã hội" đã là một cuộc cách mạng trong quan niệm của loài người về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức, giữa hình thái chủ quan và khách quan của sự vận động vật chất.