CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở CƠ QUAN NHÀ NƯỚC 1. Chuyển đổi số Cơ quan nhà nước Theo Cẩm nang chuyển đổi số của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam: Chuyển đổi số cơ quan nhà nước là hoạt động phát triển chính phủ số của các cơ quan trung ương và tương ứng với đó là hoạt động phát triển chính quyền số, đô thị thông minh của các cơ quan chính quyền các cấp ở địa phương [3]. CĐS tại CQNN tập trung vào phát triển hạ tầng số phục vụ cho CQNN hoạt động tập trung, thống nhất; tạo lập dữ liệu về kinh tế - xã hội phục vụ các hoạch định chính sách; tạo lập dữ liệu mở dễ dàng khai thác, chia sẻ, đảm bảo công khai, minh bạch, tiết kiệm, tránh lãng phí, đẩy mạnh phát triển các dịch vụ số trong nền kinh tế; triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ cao, kể cả trên thiết bị di động giúp người dân, doanh nghiệp có trải nghiệm tốt nhất đối với dịch vụ, nhanh chóng, thuận tiện, không giấy tờ, tiết kiệm chi phí. Khái niệm Chính phủ điện tử (CPĐT) CPĐT là chính phủ ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động, phục vụ người dân và doanh nghiệp tốt hơn.
Hay nói một cách khác, đây là quá trình tin học hóa các hoạt động của chính phủ [3]. CPĐT hiểu một cách ngắn gọn, là "bốn Không", có khả năng hội họp không gặp mặt, giao tiếp không giấy tờ, thực hiện thủ tục hành chính không tiếp xúc và thanh toán không dùng tiền mặt. Khái niệm Chính phủ số (CPS) CPS là chính phủ có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có mô hình hoạt động được thiết kế lại và vận hành dựa trên dữ liệu và công nghệ số, để có khả năng cung cấp dịch vụ chất lượng hơn, đưa ra quyết định kịp thời hơn, ban hành chính sách tốt hơn, sử dụng nguồn lực tối ưu hơn, kiến 5 tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội. Hay nói một cách khác, đây là quá trình chuyển đổi số của chính phủ.
CPS là CPĐT, thêm “bốn Có”, có toàn bộ hoạt động an toàn trên môi trường số, có khả năng cung cấp dịch vụ mới nhanh chóng, có khả năng sử dụng nguồn lực tối ưu và có khả năng kiến tạo phát triển, dẫn dắt chuyển đổi số quốc gia, giải quyết hiệu quả những vấn đề lớn trong phát triển và quản lý kinh tế - xã hội [3]. Sự khác biệt giữa CPĐT và CPS: CPĐT là một quy trình tin học hóa đã được triển khai, đồng thời cung cấp trực tuyến các dịch vụ hành chính công hiện có. CPS là chính phủ CĐS, mô hình hoạt động được cải tiến, quy trình làm việc được đổi mới, phương thức cung cấp dịch vụ thay đổi và dịch vụ công mới được cung cấp. Một trong những thước đo quan trọng của chính phủ điện tử là số lượng dịch vụ hành chính công mà nó cung cấp.
Trong khi đó, một trong những thước đo quan trọng của CPS là là việc giảm số lượng dịch vụ hành chính công và tăng số lượng dịch vụ công mới, mang tính sáng tạo và phục vụ người dân, nhờ sự ứng dụng của công nghệ số và khai thác thông tin. Tại sao phải phân biệt khái niệm CPĐT và CPS? Có phân biệt khái niệm rõ ràng thì mới có nhận thức đúng đắn, có nhận thức đúng đắn thì mới có hành động đúng đắn. Việc phân biệt rõ ràng các cấp độ phát triển là CPĐT và CPS, không có nghĩa là làm tuần tự, làm xong CPĐT thì mới làm CPS. Quá trình phát triển CPĐT đã diễn ra từ nhiều năm nay, dự kiến sẽ cơ bản được thực hiện vào năm 2021-2022 với mục tiêu 100% dịch vụ công của các bộ, ngành, địa phương đủ điều kiện được nâng cấp lên mức độ 4.
Khái niệm Chính quyền số (CQS) CQS là CPS được triển khai tại các cấp chính quyền địa phương (cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã) [3]. 6 Ngày nay, chuyển đổi số không còn là một sự lựa chọn. Các công ty cần phải vượt ra ngoài vùng an toàn, tự tái tạo và cạnh tranh trong thế giới được điều khiển bằng các công nghệ tiên tiến. CĐS là một quá trình dài với vô số thách thức đặt ra đòi hỏi các Chính phủ, doanh nghiệp và người tiêu dùng phải thích ứng.
Tuy nhiên, CĐS sẽ giúp Chính phủ ngày càng cải tiến chất lượng làm việc của CB, CC, VC cải tiến dịch vụ hành chính, góp phần giảm thiểu ùn tắc và đáp ứng nhu cầu của nhân dân tốt hơn. Vai trò của chuyển đổi số 1. Đối với cơ quan nhà nước Chuyển đổi số giúp cho các hoạt động của Chính Phủ trở nên hiệu quả hơn. Mọi công việc sẽ được triển khai minh bạch, hạn chế tình trạng tham nhũng diễn ra.
Ví dụ: Hoạt động thanh tra, kiểm tra của cơ quan Nhà nước sẽ được thực hiện theo hình thức trực tuyến thay vì trực tiếp đi xuống từng doanh nghiệp. Đối với địa phương Chuyển đổi số hỗ trợ tối đa hóa định hướng cơ sở hạ tầng dùng riêng cho các bộ, ngành và địa phương. Trong hoạt động chuyển đổi số, mỗi bộ, ngành, địa phương sẽ được tích hợp một nền tảng chia sẻ dữ liệu. Theo đó, các dữ liệu này là đầu mối kết nối giữa bộ, ngành, địa phương và được chia sẻ trên Cổng dữ liệu quốc gia data.
Đối với người dân Chuyển đổi số là cơ hội rất lớn cho người dân trong vấn đề thanh toán điện tử, giúp xóa nhòa khoảng cách địa lý, nâng cao chất lượng cuộc sống. Thông qua chuyển đổi số, người dân sẽ được tiếp cận gần hơn với giáo dục, tiếp cận các dịch vụ y tế kịp thời, nâng cao chất lượng của việc hưởng thụ những giá trị văn hóa, giải trí an toàn, đa dạng hơn. Các yếu tố cơ bản của chuyển đổi số 1. Nhận thức số Ở các cấp quản lý nhà nước chuyển đổi số được hiểu là sự tiến hóa chuyển đổi tư duy để xây dựng văn hoá chấp nhận và trải nghiệm điều mới; ứng dụng công nghệ số đổi mới cơ bản, toàn diện cách thức quản trị, điều hành và kiến tạo các giá trị mới.
Để thực hiện công việc này một cách hiệu quả, vai trò lãnh đạo của Đảng cần được nâng cao. Cấp ủy đảng các cấp và các cơ quan, đơn vị cũng phải có nhận thức rõ ràng về nội dung, yêu cầu và tầm quan trọng của việc CĐS, xác định rõ ràng nhiệm vụ của cấp ủy, người đứng đầu mỗi đơn vị, tổ chức và phải có sự đổi mới sâu sắc trong nhận thức, hành động đối với từng cán bộ, đảng viên. Coi công tác CĐS là nhiệm vụ trọng yếu để tăng cường chất lượng và hiệu quả hoạt động của mỗi cơ quan và đơn vị. Để nâng cao nhận thức về CĐS, môi trường số cho đội ngũ CC, VC cần xây dựng môi trường “văn hóa số” trong thực thi công vụ; “văn hóa số” được hiểu là: “Những quy tắc, ứng xử, chuẩn mực đạo đức của con người trong môi trường số”.
Trong một khảo sát của tổ chức Capgemini với 1.700 vị lãnh đạo chủ chốt, quản lý và nhân viên tại hơn 340 doanh nghiệp tại 08 quốc gia có nền công nghệ thông tin phát triển bậc nhất năm 2017, có tới 62% những người tham gia khảo sát nhận định: "Văn hóa là rào cản số một đối với chuyển đổi số". Trong một nghiên cứu khác được McKinsey tiến hành khảo sát với 2.135 câu trả lời năm 2016, đa phần các câu trả lời đều nhận định rằng: "Văn hóa là rào cản lớn nhất trong chuyển đổi số" và nếu các tổ chức chú trọng tới vấn đề chuyển đổi văn hóa và phát triển năng lực trong quá trình chuyển đổi số sẽ có tỷ lệ thành công cao hơn 2,5 lần [17]. Như vậy, văn hóa có thể được xem là một trong những rào cản chính đối với thành công trong triển khai thực hiện CĐS.1: Các thách thức đối với kỹ thuật số (Nguồn: Giáo dục mở - Tài nguyên giáo dục mở ứng dụng và phát triển.) Việc hiểu đúng về chuyển đổi số và hành động phù hợp trong môi trường số của các công chức, viên chức cần được hỗ trợ bằng những quy tắc, quy định. Cần xem xét và đánh giá theo một số tiêu chí để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả làm việc trong môi trường số như: Một là, có tác phong, phương pháp làm việc trong môi trường số (tính chủ động, linh hoạt, đảm bảo năng suất làm việc).
Hai là, quy tắc trong giao tiếp, ứng xử trong môi trường số. Ba là, có đạo đức nghề nghiệp trong môi trường số. Để nâng cao hiệu quả của việc thực thi công vụ trong bối cảnh CĐS cần tăng cường công tác tuyên truyền và phổ biến giáo dục pháp luật. Điều này nhằm thay đổi nhận thức của mọi người về văn hóa số trong quá trình làm việc.
Ngoài ra, cần hoàn thiện thể chế và pháp luật để điều chỉnh văn hóa thực thi công vụ. Thể chế số Chính phủ số đối mặt với nhiều thách thức, bao gồm cả việc điều chỉnh thể chế và khung pháp lý. Nghị quyết số 52-NQ/TW của Bộ Chính trị đã chỉ ra rằng "Thể chế, chính sách còn nhiều bất cập". Điều này cho thấy sự hạn chế trong việc xây dựng một hệ thống thể chế hiệu quả và pháp luật hoàn thiện.
Việc giải quyết những vấn đề này là một yếu tố quan trọng để đảm bảo sự phát triển và thành công của Chính phủ số. Để phát triển nhanh và bền vững, chúng ta phải dựa vào khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo cũng như đổi mới tư duy hành động. Hơn nữa, chúng ta cần kịp thời nắm bắt hiệu quả các cơ hội mà cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ 4 mang lại để tái cơ cấu lại nền kinh tế và phát triển kinh tế số, xã hội số. Để đạt được mục tiêu này, việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý phù hợp với thực tế số hiện nay được coi là một công việc vô cùng quan trọng.
Việc này giúp chuyển đổi các hoạt động từ môi trường thực sang môi trường số sẽ được hỗ trợ thuận lợi, nhằm đảm bảo sự tự chủ trong quá trình triển khai CĐS. Ngoài ra, việc khẳng định giá trị của pháp luật trong giao dịch điện tử sẽ khuyến khích giao dịch điện tử diễn ra nhanh chóng, tiết kiệm chi phí, dễ tiếp cận hơn và được bảo đảm an toàn và tin cậy.