CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ LÀ NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã là người dân tộc thiểu số 1. Khái niệm về chính sách, chính sách công - Chính sách và chính sách công là hai cụm từ khó định nghĩa một cách cụ thể, rõ ràng và thống nhất, tùy theo góc độ nhìn nhận mà các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa ra một số quan niệm như sau: Hugh Heclo (năm 1972) định nghĩa “một chính sách có thể được xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những quyết định hoặc các hành động cụ thể” [13, tr. David Easton (năm 1953) cho rằng “chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị” [13, tr.
James Anderson (năm 2003) định nghĩa: “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm” [10, tr. Theo từ điển Tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên, (Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng, 2003): “Chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra” [24, tr.
Tác giả Vũ Cao Đàm (năm 2011) thì “chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội” [10, tr. Tác giả Nguyễn Minh Thuyết (năm 2011) định nghĩa: “Chính sách là đường lối cụ thể của một chính đảng hoặc một chủ thể quyền lực về một lĩnh vực nhất định cùng các biện pháp, kế hoạch thực hiện đường lối ấy” [10, tr. Từ những quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng ta có thể thấy được đặc trưng chung nhất của chính sách bao gồm: Chủ thể đề ra chính sách là những 10 chủ thể quản lý hoặc chủ thể quyền lực dựa trên cơ sở đường lối chính trị chung và tình hình thực tế; Nội hàm của chính sách bao gồm các quan điểm mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được biểu hiện bằng hình thức kế hoạch, sách lược, nghị quyết, chương trình hành động; đối tượng hướng đến của chính sách là giải quyết một vấn đề nào đó trên các lĩnh vực về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, môi trường, quốc phòng và an ninh. Dựa trên những quan niệm và phân tích đặc trưng nêu trên, chúng tôi tiếp cận khái niệm: “Chính sách là những biện pháp, giải pháp do chủ thể quyền lực đưa ra để giải quyết một vấn đề nhằm đạt mục tiêu đề ra” trong luận văn của mình.
- Khi bàn về khái niệm chính sách công, đã có nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau. Chẳng hạn như: Theo Thomas Dye (năm 1972) định nghĩa: “Chính sách công là bất kỳ những gì nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” [13, tr. Hay như William Jenkins (năm 1978) định nghĩa, “chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền với việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó” [13, tr. James Anderson (năm 1984) đưa ra định nghĩa khái quát hơn: “Chính sách công là đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động chính trị để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề cần quan tâm” [13, tr.
Khái niệm chính sách công cũng đã được các tác giả Việt Nam đề cập đến nhiều trong các công trình khác nhau. Cụ thể như PGS.Nguyễn Hữu Hải quan niệm: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của Nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [14, tr. Một số tác giả khác như TS. Lê Như Thanh – TS.
Lê Văn Hòa cho rằng: “Chính sách công là tập hợp những quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển” [34, tr. Hồ Việt Hạnh quan niệm thì: “Chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết những vấn đề vì lợi ích chung của cộng đồng” [18, tr. Phân tích các quan niệm trên, ta có thể thấy rằng, tất cả các học giả đều có sự phản ánh đặc trưng khác nhau của chính sách công tùy theo góc độ nhìn nhận, nhưng 11 cũng có chung một nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công. Đó là, chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước (bao gồm: Quốc hội, chính phủ, các bộ và các cấp chính quyền địa phương) để thực thi quyết sách chính trị, giữa quyết sách chính trị và chính sách công có mối quan hệ chặt chẽ với nhau; đối tượng tác động của chính sách công là giải quyết một hoặc một số vấn đề liên quan đến đời sống xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng, mục tiêu hướng tới là giữ gìn ổn định trật tự xã hội, xây dựng và phát triển đất nước; hình thức thể hiện là một chuỗi các quyết định có liên quan với nhau (không chỉ là luật, các văn bản dưới luật, mà còn có thể là các kết luận hay ý tưởng phát biểu của các nhà lãnh đạo thể hiện bằng lời nói hay hành động,.); việc ban hành chính sách công phải đảm bảo theo quy trình hoạch định chính sách từ việc xác định mục tiêu cho đến công bố chính sách, chính vì vậy chính sách công có tính pháp lý cao, vì là các quyết định hành động nên chính sách công còn thể hiện các hành vi thực tiễn.
Kế thừa và phát huy quan niệm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi tiếp cận và sử dụng khái niệm chính sách công như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định của nhà nước được vận dụng vào thực tiễn để giải quyết những vấn đề đặt ra trong đời sống xã hội vì lợi ích chung của cộng đồng theo mục tiêu đã xác định”. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng - Theo Đại từ điển do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên (Nxb. Văn hóa -Thông tin, Hà Nội, 1998): Đào tạo là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; còn Bồi dưỡng là làm cho khỏe thêm, mạnh thêm và tốt hơn, giỏi hơn [53, tr.
Theo Từ điển tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên (Nxb. Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2010), Đào tạo là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; còn Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất [25, tr. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng cũng được thể hiện trong các Nghị định, Chỉ thị của Chính phủ.
Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã đưa ra cách hiểu về đào tạo và bồi dưỡng như sau: “Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học”; “Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc”[6, tr. Theo cách hiểu trên, đào tạo là quá trình truyền thụ một lượng kiến thức cơ bản 12 cho người học theo những trình tự, quy trình nhất định với những chuẩn mực và hệ phương pháp giảng dạy và học tập cụ thể, diễn ra trong một khoảng thời gian dài. Bồi dưỡng là việc truyền thụ thêm kiến thức, kỹ năng mới cho người học, trên cơ sở kế thừa và phát triển các kiến thức sẵn có của người học sát với thực tiễn mà không làm biến đổi năng lực tiềm năng. Như vậy, xét về mặt khoa học và pháp lý, giữa khái niệm “đào tạo” và “bồi dưỡng” tồn tại 2 khái niệm độc lập.
Tuy nhiên, trong thực tiễn hai thuật ngữ đào tạo bồi dưỡng vẫn được sử dụng chung. “Đào tạo, bồi dưỡng” có cùng một mục đích đó là làm cho người học có trình độ chuyên môn, khả năng xử lý công việc và năng lực công tác tốt hơn. Trên thực tế có một số hoạt động đào tạo, bồi dưỡng rất khó phân chia thành chương trình riêng, mà có sự đan xen và kế thừa lẫn nhau, chẳng hạn như đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức. Đa số cán bộ, công chức trước khi tuyển dụng đã có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tuy nhiên khi được quy hoạch hoặc bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo cao hơn thì cán bộ, công chức phải được cử đi học lớp trung cấp lý luận chính trị và phải qua lớp bồi dưỡng ngạch chuyên viên trở lên, có các chứng chỉ tin học, ngoại ngữ, nghiệp vụ chuyên ngành,.
Tóm lại, theo góc độ nghiên cứu về thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng CB,CC cấp xã là người DTTS thì hai cụm từ “đào tạo, bồi dưỡng” không nhất thiết phải tách riêng một cách độc lập tuyệt đối mà phải hiểu theo nghĩa chung nhất. Đó là, “đào tạo bồi dưỡng” là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học; đồng thời vừa trang bị, cập nhật, những kiến thức, kỹ năng mới vừa rèn luyện thực tiễn để nâng cao trình độ, năng lực, phẩm chất cho người học. Sau khi trải qua quá trình đào tạo bồi dưỡng, người học có thể đạt được một trình độ kiến thức, chuyên môn, nghề nghiệp theo chuẩn quy định nhưng cũng có thể xử lý công việc thực tiễn một cách mềm dẻo, nhạy bén, linh hoạt.