Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI DÂN DI CƯ TỰ DO 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Chính sách công Chính sách công được tiếp cận nghiên cứu từ những phương diện khoa học khác nhau. Ở các nước phát triển và các tổ chức kinh tế quốc tế, có thể nêu ra một số khái niệm về “Chính sách công” như sau: - Chính sách công là một tập hợp các quyết định có liên quan lẫn nhau của một nhà chính trị hay một nhóm các nhà chính trị gắn liền việc lựa chọn các mục tiêu và các giải pháp để đạt các mục tiêu đó (William Jenkin, 1978) [13, tr.
- Chính sách công bao gồm các hoạt động thực tế do chính phủ tiến hành (Peter Aucoin, 1971)[11, tr7]. - Chính sách công là cái mà chính phủ lựa chọn làm hay không làm (Thomas R. - Chính sách công là một kết hợp phức tạp những sự lựa chọn liên quan lẫn nhau, bao gồm cả các quyết định không hành động, do các cơ quan nhà nước hay các quan chức nhà nước đề ra (William N. - Chính sách công là toàn bộ các hoạt động của nhà nước có ảnh hưởng một cách trực tiếp hay gián tiếp đến cuộc sống của mọi công dân (B.
- Thuật ngữ chính sách công luôn chỉ những hành động của chính phủ/chính quyền và những ý định quyết định hành động này; hoặc chính sách công là kết quả của cuộc đấu tranh trong chính quyền để ai giành được cái gì (Clarke E. Cochran, et al, 1999) [11, tr11]. - Nói cách đơn giản nhất, chính sách công là tổng hợp các hoạt động của chính phủ/chính quyền, trực tiếp hoặc thông qua tác nhân bởi vì nó có ảnh hưởng tới đời sống của công dân (B. 7 - Chính sách công là một quá trình hành động hoặc không hành động của chính quyền để đáp lại một vấn đề công cộng, được kết hợp với các mục tiêu và cách thức đã được chấp thuận một cách chính thức, cũng như các quy định của các cơ quan chức năng thực hiện những chương trình (Kraft and Furlong, 2004) [11, tr5].
-Tác giả Lê Thúy Mai: “Chính sách công là thuật ngữ dùng để chỉ một chuối các quyết định hoạt động của nhà nước nhằm giải quyết một vấn đề chung đang đặt ra trong đời sống kinh tế xã hội theo mục tiêu xác định” [12, tr. Như vậy, có rất nhiều khái niệm về chính sách công tùy theo những góc độ tiếp cận khác nhau. Tựu chung lại, có thể hiểu: “Chính sách công là một tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của Đảng và Nhà nước nhằm lựa chọn mục tiêu và giải pháp, công cụ chính sách nhằm giải quyết các vấn đề xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định. Di cư, di cư tự do, dân di cư tự do Di cư Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu về di cư, song mỗi định nghĩa về di cư được xuất phát từ những khía cạnh khác nhau.
Di cư có hai nghĩa; thứ nhất: Di cư là hiện tượng di chuyển để mưu sinh của bầy đoàn khi chuyển mùa; thứ hai: Di cư là hiện tượng người dân dịch chuyển từ nơi này đến nơi khác để sinh sống. Di cư theo nghĩa thứ hai được hiểu đồng nghĩa với di dân. Theo khái niệm của Liên Hiệp Quốc, di cư là sự di chuyển từ một đơn vị lãnh thổ này đến một đơn vị lãnh thổ khác, hoặc là sự di chuyển với khoảng cách tối thiểu quy định. Sự di chuyển này diễn ra trong khoảng thời gian di dân xác định và được đặc trưng bởi sự thay đổi nơi cư trú thường xuyên.
Nơi xuất cư hay gọi là nơi đưa dân đi (đầu đi): Là địa phương có dân đi đến các vùng thuộc các tỉnh khác, hoặc trong phạm vi của tỉnh. Người dân đi từ địa phương này gọi là dân xuất cư. Nơi nhập cư hay gọi là nơi đón dân (đầu đến): Là địa phương có dân đến. Người dân định cư ở vùng mới gọi là dân nhập cư [17, 7].
8 Di dân Di dân là một hiện tượng kinh tế - xã hội gắn liền với lịch sử phát triển của xã hội loài người với những thay đổi của tự nhiên, xã hội và sự phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội giữa các vùng, các quốc gia trên thế giới. Quá trình di dân có những nét khác biệt giữa các nước và các vùng về hướng, quy mô cũng như hiệu quả kinh tế của nó. Vì vậy, cơ sở lý luận về di dân cũng cần được nghiên cứu kỹ, cần có những đánh giá cụ thể các cuộc di dân quốc tế cũng như trong từng nước, từng khu vực để phát huy hết những ảnh hưởng tích cực, khắc phục những mặt tiêu cực của quá trình này [17, 8]. Theo nghĩa rộng: Di dân được hiểu là sự chuyển động cơ học của dân cư.
Như vậy, bất cứ sự chuyển động nào của con người trong không gian gắn với sự thay đổi theo vị trí địa lý lãnh thổ đều được coi là di dân. Theo nghĩa hẹp: Di dân được hiểu là sự chuyển dịch của dân cư theo lãnh thổ, sự phân bố lại dân cư. Tuy nhiên không phải bất kỳ sự dịch chuyển nào của dân cũng là di dân, mà di dân là sự di chuyển của dân cư ra khỏi biên giới đất nước hay ra khỏi lãnh thổ hành chính mà họ đang cư trú gắn với việc thay đổi chỗ ở của họ [17, 8-9]. Các nhà dân số học coi di dân là một trong ba bộ phận cấu thành của quá trình dân số và phân biệt với quá trình sinh, tử bởi những đặc điểm sau: - Di dân không phải là quá trình sinh học nên không bị giới hạn độ tuổi hay giới tính mà chỉ giới hạn về mặt xã hội.
- Di dân không có hạn định tối đa, sự di chuyển giữa các vùng, khu vực chỉ có ảnh hưởng về mặt xã hội hay sự phát triển từ trong khu vực. - Quá trình di dân không đồng nhất, có sự khác biệt giữa các loại và đặc điểm của các loại về mặt xã hội. Dưới góc độ quản lý, di dân là sự dịch chuyển dân cư theo không gian và thời gian từ nơi này đến nơi khác. Có ba tiêu chí để xác định di dân: 9 - Đây là sự dịch chuyển địa điểm từ đơn vị hành chính này đến đơn vị hành chính khác.
- Vì mục đích kinh tế - xã hội, gắn với điều kiện kinh tế, phát triển đời sống. - Thời gian đến nơi ở mới phải lâu dài [17, 11]. Qua nghiên cứu khái niệm di dân và di cư cho thấy, các thuật ngữ “di dân” và “di cư” được dùng khá phổ biến và thường không có sự khác nhau vì cùng nói về sự di chuyển của con người. Di dân được phân loại theo các góc độ khác nhau, tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu: - Theo khoảng cách: Đây là hình thức di dân quan trọng nhất, người ta phân biệt di dân xa hay gần giữa nơi đi và nơi đến.
- Theo địa bàn nơi đến: Bao gồm hình thức di dân nội địa và di dân quốc tế. Di dân quốc tế là hình thức di dân giữa các nước. Trong hình thức di dân này, người ta còn phân chia di dân thành nhiều loại hình trên cơ sở mục đích di dân: Di dân hợp pháp; di dân bất hợp pháp; chảy máu chất xám; cư trú tị nạn; buôn bán người qua biên giới. Di dân nội địa là di dân giữa các vùng miền, các đơn vị hành chính trong một nước.
Trong hình thức di dân này, thông thường có các nhóm di dân sau: Di dân nông thôn - đô thị; di dân nông thôn - nông thôn; di dân đô thị - nông thôn; di dân đô thị - đô thị. - Theo độ dài thời gian cư trú, thường có các hình thức: Di chuyển lâu dài bao gồm các hình thức thay đổi nơi cư trú thường xuyên và nơi làm việc, với mục đích định cư sinh sống lâu dài tại nơi mới; phần lớn người di cư là do điều động công tác, người tìm cơ hội việc làm và thoát ly gia đình, những đối tượng này thường không quay trở về sống tại quê hương cũ. Di dân tạm thời là loại hình diễn ra thường xuyên hoặc không thường xuyên trong đó di dân mùa vụ là trường hợp đặc biệt; sự vắng mặt tại đầu đi diễn ra không lâu, và khả năng quay trở về của người di chuyển là chắc chắn. Di dân tạm thời bao gồm các hình thức di chuyển làm việc theo mùa vụ, đi công tác dài ngày, hoặc như trường hợp ra nước ngoài học tập rồi về nước.
Hình thái di chuyển này thường không được phản ánh trong các con số 10 thống kê về di biến động dân số, và do đó khó có thể biết được chính xác quy mô của nó. Di dân mùa vụ: Loại hình này diễn ra chủ yếu trong các xã hội nông nghiệp mặc dù thuật ngữ “mùa vụ” không nhất thiết hàm ý vụ mùa sản xuất nông nghiệp. Thuật ngữ này còn bao gồm những hoạt động mùa vụ khác như mùa xây dựng, mùa du lịch, hội làng nghề và thậm chí cả loại hình đi làm ăn xa ở khu vực nông thôn nước ta hiện nay. Ngoài ra, di dân còn bao gồm loại hình di chuyển con lắc là dòng di chuyển của cư dân nông thôn vào thành phố trong thời kỳ những dịp nông nhàn, hoặc trong điều kiện thiếu việc làm thường xuyên, việc làm có thu nhập.
Hình thái di cư này có xu hướng gia tăng trong thời kỳ đầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đang phát triển. Ngoài những hình thái nêu trên, tùy theo mục đích nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu còn phân loại di dân của cá nhân (chủ hộ, con cái, lao động chính trong gia đình) hay của nhóm (di dân phụ nữ, trẻ em, hộ gia đình, sinh viên đại học, lao động làng nghề). - Theo hình thái di dân, gồm di dân có tổ chức và di dân tự phát. Di dân có tổ chức: Là hình thái di chuyển dân cư theo kế hoạch và các chương trình dự án do Nhà nước, chính quyền các cấp vạch ra, tổ chức và chỉ đạo thực hiện, với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội.
Về nguyên tắc, người di chuyển có tổ chức được Nhà nước và chính quyền địa phương nơi nhập cư giúp đỡ.