Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÃI NGỘ ĐỐI VỚI CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Một số vấn đề về công chức cấp xã và thực hiện chính sách 1. Cấp xã và chính quyền cấp xã 1. Khái niệm cấp xã Để quản lý đất nước, các quốc gia thường phân chia lãnh thổ của mình thành nhiều địa hạt lãnh thổ lớn nhỏ khác nhau và thiết lập trên đó các tổ chức bộ máy thực hiện chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn gọi là các đơn vị hành chính.
Các đơn vị hành chính được phân định theo thứ bậc với quy mô và thẩm quyền quản lý khác nhau - gọi là cấp hành chính [34, tr. Các tổ chức bộ máy được thiết lập trên các đơn vị hành chính có chức năng quản lý nhà nước trên địa bàn được gọi là tổ chức chính quyền. Tương ứng với mỗi cấp hành chính là một cấp chính quyền. Mỗi quốc gia trên thế giới quy định quy mô các đơn vị hành chính và số cấp hành chính có khác nhau.
Ở nước ta, trong từng giai đoạn lịch sử, các cấp hành chính cũng được quy định khác nhau. Theo Điều 110 Hiến pháp 2013 thì, Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Tỉnh chia thành huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; thị xã và thành phố thuộc tỉnh chia thành phường và xã; quận chia thành phường. 17 e Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập nước ta có 4 cấp hành chính, Tương ứng với 4 cấp chính quyền đó là: trung ương, tỉnh, huyện và xã, [21]. Như vậy, theo Hiến pháp 2013, nước ta có 4 cấp hành chính đó là: cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã.
Trong hệ thống hành chính của Nhà nước ta, cấp xã là cấp có đơn vị hành chính nhỏ nhất. Song, đơn vị hành chính cấp xã là đơn vị hành chính cơ bản, là “tế bào” cấu thành nên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả quốc gia. Do vậy, trong nhiều tài liệu, sách báo và văn bản hành chính “cấp xã” còn có tên gọi khác là “cấp cơ sở”. Theo quy định của pháp luật nhà nước Việt Nam hiện hành, ở mỗi cấp hành chính đều được thành lập trên đó các tổ chức Đảng, chính quyền, MTTQ và các tổ chức đoàn thể nhân dân.
Tất cả các tổ chức trên ở mỗi cấp hành chính hợp lại thành hệ thống chính trị của cấp đó. Trong đó, tổ chức chính quyền nhà nước giữ vai trò trung tâm, là nền tảng và là “rường cột” của hệ thống chính trị. Tóm lại: Cấp xã là cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước ta; Là cấp có đơn vị hành chính nhỏ nhất, song đây là đơn vị hành chính cơ bản, là “tế bào” cấu thành nên đơn vị hành chính cấp huyện, cấp tỉnh và cả quốc gia. Chính quyền cấp xã Chính quyền cấp xã là cấp chính quyền thấp nhất trong hệ thống tổ chức hành chính của nhà nước ta, được thành lập trên từng đơn vị hành chính cấp xã, có chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế- xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh ở địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật.
Chính quyền cấp xã bao gồm Hội đồng nhân dân (HĐND) và Uỷ ban nhân dân (UBND). HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở 18 e địa phương, do cử tri trong xã bầu ra, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương. Cơ cấu tổ chức HĐND cấp xã gồm: Chủ tịch, Phó chủ tịch và các đại biểu HĐND. Số lượng đại biểu HĐND cấp xã được quy định theo dân số và địa bàn của từng đơn vị hành chính cấp xã, thấp nhất là 25 đại biểu và cao nhất là 35 đại biểu.
UBND cấp xã là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp, đồng thời là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. UBND cấp xã do HĐND cấp xã bầu ra và phải được Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Cơ cấu tổ chức của UBND cấp xã có từ 3 đến 5 thành viên, gồm: Chủ tịch, 1-2 Phó chủ tịch, và các uỷ viên. Giúp việc cho UBND xã có các công chức chuyên môn.
Trong hệ thống chính quyền của Nhà nước ta, chính quyền cấp xã là cấp chính quyền thấp nhất, gần dân và trực tiếp với dân nhất. Chính quyền cấp xã vừa là cấp trực tiếp truyền đạt, phổ biến và tổ chức triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật Nhà nước; vừa là cấp quản lý trực tiếp mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội diễn ra ở địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật. Địa bàn cấp xã là nơi định cư, sinh sống của các tầng lớp nhân dân, là nơi thường phát sinh những sáng kiến, kinh nghiệm cũng như những đề xuất, kiến nghị của quần chúng nhân dân qua việc vận dụng, thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Pháp luật của Nhà nước trong sản xuất và đời sống. Vì vậy, chính quyền cấp xã là nơi đầu tiên và trực tiếp tiếp nhận, giải quyết những đề xuất, kiến nghị của các tầng lớp nhân dân với Đảng và Nhà nước; đồng thời là đầu mối tổng hợp báo cáo lên cấp trên xem xét giải quyết những đề xuất, kiến nghị của công dân vượt thẩm quyền.
Có thể nói chính quyền cấp xã như là “những chiếc cầu nối liền giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng và Nhà nước cấp trên”. 19 e Khi bàn về vai trò của chính quyền cấp xã Chủ tịch Hồ Chí Minh đó từng viết: “Cấp xã là cấp gần gũi dân nhất, là nền tảng của hành chính. Cấp xã làm được việc thì mọi việc đều xong xuôi” [9, tr. Có thể nói chính quyền cấp xã có vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống chính quyền nhà nước, sự ổn định và vững mạnh của chính quyền cấp xã là nhân tố đặc biệt quan trọng góp phần tạo nên sự ổn định, phát triển của từng xã, từng huyện, từng tỉnh và của cả quốc gia.
Xác định được vị trí, vai trò quan trọng của cấp xã, ngay khi thực dân Pháp bắt đầu xâm lược nước ta, chúng cũng đó rất chú ý và coi trọng yếu tố làng, xã trong việc thiết lập bộ máy cai trị của chúng ở Việt Nam. Sau cách mạng Tháng Tám, dưới sự lãnh đạo của Đảng, qua các giai đoạn đoạn phát triển của đất nước, đặc biệt từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta đó quan tâm nhiều đến việc kiện toàn, sắp xếp và củng cố tổ chức chính quyền cấp xã. Ngày nay, sự phát triển kinh tế-xã hội ở nước ta đang chuyển đổi theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nói chung, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn nói riêng đó và đang đặt ra nhiều vấn đề mới đối với chính quyền cấp xã và quản lý kinh tế-xã hội ở cấp xã, cần phải được tiếp tục nghiên cứu sửa đổi cho phù hợp. Theo quy định hiện hành, chính quyền cấp xã có chức năng, nhiệm vụ quản lý mọi hoạt động chính trị, kinh tế- xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa bàn cấp xã; đảm bảo cho Hiếp pháp, Pháp luật, các quyết định của chính quyền cấp trên được tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh ở địa phương; đảm bảo và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động; đảm bảo quyền lợi của công dân, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đồng thời động viên nhân dân làm tròn nghĩa vụ đối Nhà nước.
Cán bộ, công chức cấp xã 1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2, Điều 4, Luật Cán bộ, công chức 2008 thì: Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, [17]. Theo quy định của Khoản 3, Điều 4 và Khoản 2, Khoản 3, Điều 61, Luật Cán bộ, công chức 2008 thì: - Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội.
Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây: 21 e Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân; Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh; Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam; Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.