CHƯƠNG 1 THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA BÙI KIM ANH 1. Thơ nữ Việt Nam đương đại – Hành trình của truyền thống và cách tân. Vài nét về thơ nữ Việt Nam đương đại. Trong lịch sử thi ca dân tộc Việt Nam, ngay dưới chế độ phong kiến, khi quan niệm trọng nam khinh nữ còn nặng nề, đã xuất hiện một lớp các nhà thơ nữ lên tiếng bênh vực người phụ nữ.
Những trang viết của họ đã có nhiều đóng góp cho nền văn chương nước nhà, để lại nhiều tên tuổi lớn. Bước sang thời kỳ văn học hiện đại, một lực lượng đông đảo các cây bút nữ xuất hiện. Những sáng tác của họ đã góp phần tạo nên sự phong phú đa dạng cho sự phát triển của nền thơ ca Việt Nam. Thơ của họ đã gây ấn tượng cho người đọc, được dư luận khẳng định và đã được giới thiệu ra nhiều nước trên thế giới.
Họ đã góp mặt mình vào sự phát triển mới mẻ, sôi nổi và tràn đầy sức sống của thời đại: “ Sự xuất hiện của họ đã khiến cho diện mạo văn học từ đây trở nên đầy đủ hơn, trọn vẹn hơn, với nhiều nét vẻ, giọng điệu, thanh âm và hình hài, được tạo nên từ sự đa dạng về giới chứ không còn là hành trình đơn lẻ và độc chiếm của các tác giả nam như chuỗi thế kỉ dài trong quá khứ” [28]. Thơ của các cây bút nữ trẻ xuất hiện từ khoảng 10 năm trở lại đây chịu sự ảnh hưởng của những mạch nguồn thơ nữ trước đó, từ thế hệ các tác giả trưởng thành trong chiến tranh như Xuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn Thị Hồng Ngát, Lâm Thị Mỹ Dạ, Thúy Bắc, Lê Thị Mây. cho đến Thu Nguyệt, Tuyết Nga, Lê Thị Kim, Đỗ Bạch Mai, Thảo Phương, Phi Tuyết Ba, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh, Đoàn Ngọc Thu, Đặng Thị Thanh Hương. Thơ của họ mang hơi thở của đời sống hòa bình với những vui buồn thường trực của con người.
Sau họ một quãng ngắn là thế hệ c 14 nhà thơ nữ cũng sinh ra trong chiến tranh, ít nhiều biết mùi đạn bom, thuốc súng như Tuyết Nga, Thảo Phương, Đỗ Bạch Mai, Phạm Hồ Thu, Nguyễn Thị Mai, Giáng Vân, Trần Kim Hoa, Trần Thị Huyền Trang, Thu Nguyệt, Đoàn Ngọc Thu,. Cùng với việc tiếp tục khai thác hướng đề tài cũ nói về thân phận người đàn bà, về tình yêu và lòng thủy chung son sắt, tình mẹ con, bầu bạn, những tác giả thơ nữ trẻ đi sâu khai phá những đề tài mới đầy biến động của đời sống, những va đập của đời thường, niềm khát khao mãnh liệt hướng tới những cái mới, những chân trời lạ lẫm. Một thế hệ mới đã xuất hiện như Vi Thùy Linh, Ly Hoàng Ly, Phan Huyền Thư, Bình Nguyên Trang, Dạ Thảo Phương, Đường Hải Yến, Nguyễn Thúy Hằng, Trương Quế Chi, Phạm Vân Anh, Ngô Thị Hạnh, Ngô Thị Thanh Vân, Lynh Bacardy, Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, Phương Lan, Khương Hà, Lê Thị Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý, Trương Gia Hòa, Tú Trinh, Lữ Thị Mai, Trương Hồng Tú. Họ là những cây bút trẻ thuộc thế hệ 7X, 8X, 9X chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, có những nét phá cách và có nhiều thể nghiệm mới mẻ.
Đây chính là lực lượng “mạnh” làm cho bức tường “quyền lực” của nữ giới trong thơ trở nên kiên cố hơn. Tất cả họ, dù ít dù nhiều, cũng đã làm cho mảng thơ nữ sau 1975 thêm sôi động, khẳng định sự có mặt không thể thiếu của mình trong thơ ca đương đại Việt Nam. Có thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu của một số nhà thơ nữ có tên tuổi nổi bật như: “Tặng riêng một người" (1990), "Thơ Lê Thị Mây" (2003) của Lê Thị Mây; "Đề tặng một giấc mơ" (1999), "Hồn đầy hoa cúc dại" (2007), "Thơ tình Lâm Thị Mỹ Dạ" (2008) của Lâm Thị Mỹ Dạ; "Sóng thời gian" (2000), "Quà tặng" (2004), "Hoa trên gai" (2007) của Phi Tuyết Ba; "Em đi ngang chiều gió" (2001), "Người gánh vô hình" (2005), "Đứt dải yếm" (2007) của Nguyễn Thị Ngọc Hà; "Một mình khâu những lặng im" (2005), "Vệt trăng và cánh cửa" (2008) của Hoàng Việt Hằng; "Lối nhỏ" (1988), "Du nữ ngâm" (2006) của Dư Thị Hoài; "Ngôi nhà sau cơn bão" (1992), "Thơ Nguyễn Thị Hồng Ngát" (2003), "Gió thổi tràn qua mặt" c 15 (2006) của Nguyễn Thị Hồng Ngát; “Cỏ trắng” (1999), “Lô lô” (2005) của Ly Hoàng Ly; "Cô gái và cầu vồng" (1995), "Nửa vòng bông gạo" (2001) của Đoàn Thị Ký; "Khát" (1999), “Linh” (2000), "Đồng tử" (2005) của Vi Thuỳ Linh; "Chồng chị chồng em" (1991), "Thơ trữ tình" (2003), "Thơ với tuổi thơ" (2005) của Đoàn Thị Lam Luyến; "Đẹp và buồn trong suốt như gương" (2005), "Giấc mơ hái từ cơn giông" (2008) của Lê Khánh Mai; "Một khúc sông trăng" (2001), "Tảo tần gót khuya" (2005) của Nguyễn Thị Mai; "Người đàn bà ngồi đan" (1985), "Mưa tuyết" (1991), "Ý Nhi Thơ" (2000) của Ý Nhi; "Khoảng cách cuối cùng" (1999), "Hoa bất tử" (2011) của Trần Thị Vân Trung; "Giá mà em từ chối" (2002), "Mưa mùa đông" (2004) của Nguyễn Thúy Quỳnh; “Sẹo độc lập”(2015) của Phan Huyền Thư, "Lục bát cuối chiều" (2008), "Bắc lên ngọn gió mà cân" (2010), "Đi tìm giấc mơ” (2012), “Nhặt lời cho bóng lá” (2015),“Hình như mùa đã lỡ” (2017) của Bùi Kim Anh… Tất cả hàng trăm tập thơ, hàng ngàn bài thơ của các nhà thơ nữ Việt Nam thuộc các thế hệ khác nhau, họ đang có đủ tự tin để xung phong mở đường giải phóng cho cái tôi phụ nữ chật hẹp, lắm phiền muộn nhưng cũng đầy tự tin, cao ngạo của thơ nữ trẻ đương đại Việt Nam trong thời buổi hội nhập toàn cầu. Một số đặc điểm nổi bật của thơ nữ Việt Nam đương đại.
Bàn về thơ nữ đương đại, nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong bài Thơ trẻ không an bài với thành tựu đã nhận xét “cái thước thơ chính thống đã bị những giá trị mới phát ra những tín hiệu đổi thay… Sự xuất hiện ào ạt và dần dần được ghi nhận của thơ trẻ quả đã làm cựa quậy khuôn thước độc tôn của thơ ca chính thống”, sự mới mẻ đó thể hiện ở chỗ “những nhà thơ trẻ tuổi của ta hiện nay đang bắt đầu trên nấc thang rất cao của thành tựu thơ ca thế giới nói chung và thơ Việt Nam nói riêng. Theo thiển ý của tôi thì họ đang thâu nhận thành tựu để tạo ra một giọng điệu riêng cho thơ trẻ Việt c 16 Nam hôm nay. Có nhiều tác giả muốn tạo thế cân bằng. Họ kết hợp thành tựu và sự chuẩn bị riêng từ thời đoạn đầu mở ra công cuộc đổi mới đất nước”.[33] Cùng với thời gian, sự đổi thay của cuộc sống với hơi hướng hiện đại, đất nước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thời kì hội nhập đã sinh ra những con người mới với lối sống mới, cách nghĩa cách cảm mới từ đó thơ bắt đầu chuyển mình sang một sắc thái mới với những cách tân cả về nội dung và hình thức.
Nhìn vào đội ngũ cũng như tác phẩm, có thể phân thơ nữ trẻ đương đại thành hai xu hướng nghệ thuật chính: thứ nhất, thơ truyền thống có giao thoa với hiện đại; thứ hai, thơ cách tân, phá cách với sự phi chuẩn cả về nội dung và hình thức. Các nữ thi sĩ thuộc xu hướng thứ nhất ảnh hưởng từ truyền thống và phát huy các giá trị truyền thống. Thơ của họ nhuần nhị cả về mặt cấu trúc, thể loại, ngôn từ lẫn nội dung được chuyển tải. Có thể thấy rõ đặc điểm này ở một số cây bút như Bình Nguyên Trang, Phạm Vân Anh, Đường Hải Yến, Lê Mỹ Ý, Chu Thị Minh Huệ, Nguyễn Thanh Vân, Trang Thanh, Lê Ngân Hằng, Trần Lê Sơn Ý.
Những tác giả này tìm tòi trên những khuôn hình có sẵn. Thơ theo xu hướng này dễ được bạn đọc đồng cảm, ủng hộ. Người đọc có thể cảm nhận ngay khi đọc tác phẩm bằng tư duy và cảm xúc của chính mình mà không cần phải nhờ tác giả hay nhà phê bình phân tích lại mới hiểu. “Thế giới nghệ thuật của các tác giả này phong phú, ám ảnh bởi hồn thơ, tứ thơ và hình tượng thơ.
Họ đã đến cõi thơ bằng trái tim và sự đam mê quặn thắt. Ở một góc độ nào đó, sự kiếm tìm của họ đã thành công. Thơ họ đã có bóng dáng của chiều sâu triết lý, mang yếu tố xã hội mà vẫn có những rung động nghệ thuật rất đỗi cao cả, mang tính nhân văn, không nhòa với các tác giả khác” (Chu Thị Thơm, Thơ trẻ, bức tranh chưa phân định màu sắc, Tạp chí Nhà văn, số 2, 2006). Tuy nhiên, những cây bút trẻ theo hướng truyền thống này đang ngày càng vận động theo chiều hướng mới, bắt đầu có những c 17 phá cách trong cảm xúc và lối thể hiện.
Xu hướng thứ hai, là lớp nhà thơ nữ sinh ra trong thời bình, họ không gánh chịu mùi bom đạn chiến tranh, sống trong thời đại mới nên quan niệm nghệ thuật của họ cởi mở, táo bạo hơn. Với lối thơ tự do phóng khoáng, nội dung thường gắn liền với biến động của đời sống tình cảm, khơi gợi tình yêu và nhục dục. Các tác giả thơ không bằng lòng với những cái đã an bài, thơ họ mạnh bạo về ngôn từ, lạ về giọng điệu, thể hiện bản ngã một cách mãnh liệt. Khát vọng của cái tôi nhục cảm được thể hiện ráo riết và thôi thúc: “Cái lưỡi mềm của anh nơi gan bàn chân em/ Làm thế giới hóa lỏng.
“Vào sau cửa buồng vần vũ mười lăm phút/ Ra đường đoan trang chớp mắt thướt tha. Có thể nói, ngòi - bút - thơ của các nhà thơ sau 1975 đã chủ động, tìm tòi hơn để vươn tới bề sâu của những vỉa tầng còn ẩn khuất của đời sống tâm trạng và tinh thần con người để khai thác và hướng tới những hiệu quả nghệ thuật mới. Cũng viết về cuộc chiến tranh đã đi qua, nhưng các nhà thơ sau năm 1975 đã hướng tới những số phận, khắc hoạ được những nỗi đau mất mát, nó thấm thía và lay động lòng người hơn trước. Nỗi buồn được cảm thông và chia sẻ trong thơ họ rất thật, nó mệt mỏi, nhức đau như chính cuộc đời vậy.
Đọc thơ họ, chúng ta có cảm giác vừa đi qua một cánh rừng rậm đặc, trong bóng đêm ẩm ướt của những câu thơ đang tuôn trào như một sự hối thúc ám ảnh.Thơ của họ như bản giao hưởng của rất nhiều khái niệm, cảm giác, suy ngẫm và ý tưởng-cùng tấu lên tràn đầy sức tưởng tượng lạ lẫm. Những day dứt của đời thường để lại không ít vết thương trong trái tim các nhà thơ.