Chương 1 PHẠM TRÙ CÁI ĐẸP VÀ CÁI ĐẸP TRONG NGHỆ THUẬT NHIẾP ẢNH 1. Cái đẹp trong đời sống và trong nghệ thuật Hạnh phúc lớn nhất của con người là được sống hạnh phúc với cái đẹp. Cái đẹp không chỉ làm đẹp thêm cho cuộc sống, mà còn là một trong những động lực của đời sống xã hội, là đề tài nghiên cứu và chiêm nghiệm muôn thuở của con người. Cái đẹp có mặt trong mọi lĩnh vực trong cuộc sống.
Chẳng phải ngẫu nhiên mà nhà văn Dostoiesky cho rằng: “Cái đẹp đã cứu rỗi nhân loại”. Có ý kiến cho rằng, cái đẹp được xuất hiện với tính cách là đối tượng thẩm mỹ kể từ năm 1750, Baumgarten đã cho xuất bản cuốn Mỹ học đầu tiên với nhan đề là Aesthétika. Mỹ học của chủ nghĩa duy lý Baumgarten coi đối tượng của mỹ học là tình cảm về cái đẹp. Mỹ học ở đây là một môn khoa học nghiên cứu biểu cảm về cái đẹp trong thiên nhiên và trong cuộc sống.
Giữa thế kỷ XIX, có nhiều khuynh hướng khác nhau nghiên cứu về cái đẹp nhưng nổi trội nhất là khuynh hướng mỹ học duy tâm chủ quan, khuynh hướng này cho rằng, cái đẹp phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người mà cụ thể hơn là ý thức chủ quan của mỗi cá nhân sản sinh ra cái đẹp. Trong quá trình cảm thụ thẩm mỹ của các hiện tượng, sự vật cảm tính, con người mang tính thẩm mỹ truyền vào nó và làm cho nó trở nên đẹp. Đại diện cho khuynh hướng này là Imanuel Kant, trong tác phẩm: “Phê phán năng lực phán đoán”, Imanuel Kant đã đặt cơ sở lý luận mỹ học quan trọng giải quyết vấn đề cái đẹp. Khi nghiên cứu về nguồn gốc và bản chất của cái đẹp, Kant dựa vào bốn “loại tiên đề” của phán đoán là chất, lượng, tương quan và hình thái để phân tích bốn phương diện của phán đoán về cái đẹp.
Kant viết: “Để thấy cái gì là tốt, lúc nào tôi cũng phải biết đối tượng ấy phải là một sự vật như thế nào, tức là, có một khái niệm về nó. Còn để thấy cái gì là đẹp, tôi không cần điều ấy. Đóa hoa, tranh vẽ tự do, những đường nét đan nhau vô tình, với tên gọi là hoa văn chẳng có ý nghĩa gì, không phụ thuộc vào một khái niệm nhất định nào, nhưng vẫn làm hài lòng [24, tr. Kant khẳng định: “Đẹp là cái gì được nhận thức như là đối tượng của một sự hài lòng tất yếu, nhưng độc lập với khái niệm” [24, tr.
8 Có thể nói, cách diễn giải của Kant là một trong những công trình phân tích cái đẹp một cách công phu và bao quát nhất trong lịch sử mỹ học. Điều đáng lưu ý là, Kant tiếp cận cái đẹp không từ thực tiễn nghệ thuật mà là từ tư duy triết học, nhưng không phải vì thế mà mỹ học của ông xa thực tế. Chìa khóa mở đường vào lý thuyết phán đoán cái đẹp của Kant là nằm ở tình cảm chủ quan của con người. Tsécnưsépxki coi cái Đẹp chính là đời sống, ông coi cái đẹp có nguồn gốc từ cuộc sống và bản chất của cái đẹp là cuộc sống theo quan niệm của con người, cái đẹp phải gắn với sự phong phú của cuộc sống, cơ sở của cái đẹp nằm trong chính bản thân hiện thực.
Theo Tsécnưsépxki, cái đẹp không đơn thuần là một hiện tượng có tính chất sinh học mà trong cái đẹp có mối quan hệ biện chứng giữa cái có tính sinh vật và cái có tính xã hội, giữa cái khách quan và cái chủ quan, giữa cái thuộc hiện thực và cái thuộc lý tưởng. Tsécnưsépxki còn nhận định rằng, cuộc sống lao động đẹp hơn cuộc sống an nhàn, những người nông dân má đỏ, da hồng hào thì đẹp hơn các cô thiếu nữ thị thành ẻo lả. Khuynh hướng nghiên cứu cái đẹp từ ý niệm, trực giác, được trình bày rõ nhất trong tác phẩm “Mỹ học” của Ph. Theo Hêghen, cái đẹp có nguồn gốc tinh thần và bản chất của cái đẹp là thể hiện của ý niệm tuyệt đối.
Ông viết: “Đời sống của vũ trụ là quá trình thực hiện của ý niệm tuyệt đối. Chỉ có vũ trụ trong toàn khoảng không gian và trong quá trình tồn tại của nó mới là sự thực hiện đầy đủ của ý niệm tuyệt đối, còn trong một đối tượng nào đấy bị hạn chế trong những giới hạn của không gian và thời gian thì ý niệm tuyệt đối không bao giờ được thực hiện đầy đủ cả. Trong khi tự thực hiện, ý niệm tuyệt đối tự phân ra thành một loạt các quan niệm nhất định và mỗi quan niệm nhất định lại cũng chỉ được thực hiện đầy đủ trong muôn hình vạn trạng các đối tượng hoặc các vật mà nó bao trùm, nhưng nó không bao giờ được thực hiện trong một vật riêng lẻ. … Nhìn nhận sự vật như thế chỉ là ảo ảnh (ist lin Shein) vì rằng ý niệm không bao giờ biểu hiện một cách đầy đủ trong một đối tượng riêng lẻ; nhưng dưới cái ảo ảnh ấy có ẩn náu chân lý, vì rằng ý niệm chung thực sự được thực hiện đến một mức độ nào đó trong một ý niệm nhất định và một ý niệm nhất định được thực hiện đến một mức độ 9 nào đó trong một đối tượng riêng lẻ.
Cái ảo ảnh che dấu chân lý đó, cái ảo ảnh về sự biểu hiện đầy đủ của ý niệm trong một vật riêng lẻ đó là cái đẹp (das schône)” [34, tr. Đây cũng là quan niệm chung của chủ nghĩa duy tâm khách quan khi nghiên cứu về cái đẹp. Theo Heghen, cái đẹp chân chính chỉ tập trung trong nghệ thuật, vẻ đẹp tự nhiên như cỏ, cây, vạn vật, nó là sự biểu hiện nghèo nàn, không đa dạng, chỉ thoáng qua. Chỉ có “cái đẹp trong nghệ thuật” mới chính là cái thẩm mỹ chân chính.
“Cái đẹp trong nghệ thuật cao hơn cái đẹp trong tự nhiên. Đối tượng của mỹ học là vương quốc rộng lớn của cái đẹp”. Cái đẹp trong nghệ thuật là sự biểu hiện của lý tưởng trong các hình tượng, do đó, nó cao hơn cái đẹp ở ngoài cuộc sống. Cái thẩm mỹ trong nghệ thuật được hình thành từ việc con người đã “đối tượng hóa” bản thân mình và “chủ thể hóa” cái đẹp bên ngoài.
Các nhà khoa học tiền bối đã khẳng định rằng, các quan niệm mỹ học – triết học về cái đẹp trước chủ nghĩa Mác đều không tránh khỏi tính phiến diện ở mức độ này hay mức độ khác khi họ hoặc xác định nguồn gốc của cái đẹp là ý niệm hay tinh thần tuyệt đối, hoặc xác định nguồn gốc của cái đẹp từ cảm xúc chủ quan của cá nhân, hoặc tuyệt đối hoá tính khách quan của vẻ đẹp, đồng nhất cái đẹp với những thuộc tính vật chất – vật lý của các sự vật, hiện tượng. Tính phiến diện này được khắc phục trong mỹ học Mác – Lênin. Cái đẹp – đối tượng nghiên cứu của mỹ học Kế thừa tư tưởng của các nhà mỹ học đi trước, trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, Mác- Ăngghen, và sau này Lênin, đã giải quyết một loạt những vấn đề chủ yếu của mỹ học.Ăngghen đã phát hiện ra bản chất của cái đẹp gắn liền với lao động, với bản chất xã hội và mang quan hệ giá trị. Cái đẹp không phải là cái vốn có, nếu thiếu con người và lao động thì không có cái đẹp.
Mỹ học Mác – Lênin khẳng định sự ra đời của các quan hệ thẩm mỹ, của nghệ thuật gắn liền với quá trình lao động và hoạt động thực tiễn. Đây là quan điểm duy vật biện chứng và lịch sử của triết học Mác – Lênin khi phân tích đời sống xã hội để 10 khẳng định vai trò của sản xuất vật chất là cơ sở tồn tại, vận động và phát triển của xã hội; bao gồm tất cả các lĩnh vực tinh thần, trong đó có ý thức thẩm mỹ. Mác viết: “Phương thức sản xuất đời sống vật chất của xã hội quyết định các qúa trình sinh hoạt xã hội, chính trị tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người quyết định sự tồn tại của họ; trái lại, tồn tại xã hội của họ qui định ý thức của họ”.15] Quan hệ thẩm mỹ của con người với hiện thực gồm có hai phương diện đối lập nhau trong quan hệ thẩm mỹ là khách thể thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ.
Nghệ thuật là phương thức và là kết quả cao nhất của sự tác động qua lại lẫn nhau giữa khách thể thẩm mỹ và chủ thể thẩm mỹ. Chủ thể thẩm mỹ “nhào nặn vật chất theo qui luật của cái đẹp” C. Mác đã khẳng định hoạt động có mục đích của con người đã dẫn con người biết sáng tạo trong toàn bộ cuộc sống của mình để con người thoát khỏi tình trạng động vật. “Súc vật chỉ nhào nặn vật chất theo thước đo và nhu cầu của giống loài của nó, còn con người thì có thể sản xuất theo thước đo của bất cứ giống loài nào và ở đâu cũng có thể ứng dụng cho đối tượng; do đó con người cũng nhào nặn vật chất theo qui luật của cái đẹp”.
Nhào nặn vật chất theo qui luật của cái đẹp là một trong những đặc trưng bản chất của con người. Phát hiện của C.Mác về nguồn gốc và bản chất thật sự của cái đẹp là từ lao động đã cho mỹ học cơ sở để phát triển đến trình độ mới. Mác viết: “thông qua sự phong phú, đã được phát triển về mặt vật chất, của bản chất con người, thì sự phong phú của tính cảm giác chủ quan của con người mới phát triển một phần thậm chí lần đầu tiên mới được sản sinh ra; lỗ tai thính âm nhạc, con mắt nhận thấy cái đẹp của hình thức, - nói tóm lại là những cảm giác có khả năng về sự hưởng thụ có tính chất người và tự khẳng định mình như những lực lượng bản chất của con người.137] Như vậy, chủ thể thẩm mỹ là con người xã hội có năng lực cảm thụ, sáng tạo và đánh giá thẩm mỹ theo những qui luật của cái đẹp thông qua các giác quan được rèn luyện để tác động đến thế giới về mặt thẩm mỹ. Cái đẹp giữ vị trí trung tâm trong khách thể thẩm mỹ Khách thể thẩm mỹ bao gồm các hiện tượng thẩm mỹ (các phạm trù cái đẹp, cái bi, cái hài, cái cao cả…, trong đó, cái đẹp giữ vị trí trung tâm) và những quan hệ thẩm 11 mỹ.