CHƯƠNG 1: NHỮNG TIEN DE CO BAN CUA CAI CACH KINH TE Ở ÁN ĐỘ 1. QUA TRINH HINH THANH QUAN DIEM PHAT TRIEN GO CAC NUGC DANG POAT TRIEN - CO SG L¥ LUAN CHO CẢI CÁCH KINH TẺ ẤN DỘ 1. Sơ lược quá trình hình thành Quá trình nghiên cứu các quan điểm phát triển hình thành cùng với sự ra đời và phát triển của rất nhiều nhà nước độc lập ở Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ La Tình từ những năm 1950; khi phần lớn các nước này được giải phóng khỏi chế độ thực dân cũ và bắt đầu sự nghiệp xây dựng nền kìmh tế độc lập, tự chủ của mình. Nhận thấy không thể dựa mãi vào những lý thuyết kinh tế truyền thống của các nước Phương 'Lây, nhiều nhà kinh tế học của các nước “thế giới thứ ba” đã đi sâu nghiên cứu để tìm ra các quan điểm phát triển riêng của mình.
Song bởi đây lại lá một vấn để mang tính chất quốc tẾ, nên đã có rất nhiều nhà kinh tế học Phương Tây tham gia quá trình nghiên cứu này. Dó chính là nguyên nhân dẫn tới sự hình thành các quan điểm phát triển ở các nước đang phát triển Lúc đầu, những quan điểm này chịu ảnh hưởng lớn bởi lý thuyết của những nhà kinh tế học cỗ điển như Ađam Smith, David Ricarẻo.và cả các quan diểm kinh tế xã hội của học thuyết Marx. Vé sau, chủng dược mở rộng, và bổ sung thêm những vấn đề thực tế của các nước dang phát triển. Từ sau chiến tranh thế giới thứ Ií đến những năm 1980, gác trường phái chính của kinh tế học phát triển tập trung vào hai loại lý thuyết chủ yếu nếi tiếp nhau, đó là “Chủ nghĩa Cấu trúc" và “Thuyết Tự do mới”.
Các lý thuyết này một phần. vẫn chịu ảnh hưởng từ những lý thuyết kinh diễn như “Tự do cạnh tranh” và *Lợi thể so sánh”; song bền cạnh đó, chúng đã được bỗ sung thêm các quan điểm mới cho phù hợp với tỉnh hình thực tễ. Lý thuyết “Lợi thế so sánh” thì được bỗ sung thêm những yếu tổ mới về tiểm lực khoa học công nghệ, những, yếu tổ liên quan đến nội lực và ngoại lực của các nước đang phát triển trong đó tiêu biểu là quan điểm “tự lực cảnh sinh” và “độc lập dân tộc”, để cao vai trò dân tộc ở các nước đang phát triển, hạn chế ảnh hưởng của tư bán nước ngoài. Điểm nổi bật của chủ nghĩa “Tự đo cạnh tranh” là việc để cao sức manh tuyệt đổi từ “bản tay vô hình” của thị trường dã nhường chỗ cho những +ư duy của trường phái Tự do mới về điều chỉnh cân đối giữa Nhà nước và thị trường Chủ nghĩa Cấu trúc và Thuyết Tự do mới có ảnh hướng chỉ phối Lới quá trình phát triển kinh tế xã hôi.
đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa ở các nước đang phát triển. Từ những năm 1980, khi những cuộc khủng hoảng về cơ cầu vả khủng hoảng tải chính tiễn tệ nỗ ra ngày càng nhiều, đã có đánh giá lại về quan điểm lý thuyết và về chiến lược phát triển ở hầu hết các nước đang phát triển. Những quan diểm vỀ chính sách phát triển cảng ngày cảng thay dỗi mạnh mẽ, thể hiện qua các cuộc cải cách và chuyển đổi kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển tại Châu Á, Châu Phi. Điển những năm 1990, các lý thuyết trên dây một lần nữa lại phải diều chỉnh bởi quả trình toàn cầu hóa ngày càng trở nên sâu rộng cùng với sự luân chuyển mạnh của các dòng vốn, của thương mại quốc tế; sự tiễn bộ nhanh chóng của công nghệ thông tin, của kinh tế trị thức và bởi những diễn biến thất thường của kinh tế thế giới.
Sự điều chỉnh này đã tác động mạnh đến các nước, dặc biệt là các nước dang phát triển. Từ đó, tư duy kinh tế của các nước đang phát triển được bổ sung thêm những quan điểm mới về liên kết và hội nhập kinh tế quốc tế 1. Các tư tướng và lý thuyết kinh té lign quan dén cai cách kính tế ở Án Dộ 1. Chủ nghĩa Cầu Irúc Trong số những lý thuyết luận giải về hiện tượng kinh tế ở các nước đang phát triển để đưa ra khuyến nghị về chính sách, chủ nghĩa Cấu trúc nổi bật lên bởi tính độc đáo và ảnh hưởng lâu dài của nó.
Khái niệm “Chủ nghĩa Cấu trác” hay “ấu trúc luận” xuất hiện vào cuỗi những năm 40 và đầu những, năm 50 của thế ý 20 để mô tả tư tưởng của một nhóm những nhà khoa học xã hội trong Ủy ban Kinh té Lién Hop Quéc vé My La ‘Tinh (ECLA) do nha kinh tế học nỗi tiếng người Argentina lả Raul Prebisch dimg đầu [1 1] Cáo táo giả của Chủ nghĩa Cấu trúc đã tập trưng phân tích những vẫn đề kinh tế của các nước đang phát triển với mục đích: — Xác định vị trí của các khu vực ngoại vi trong mối liên hệ với những trung lâm Lư bản lớn ở Bắc Mỹ và Tây Âu trong nền kinh tế qui Ban va tìm giải pháp khắc phục tinh trạng không đồng nhật giữa các nền kinh tế dang phát triển do sự phát triển không đều giữa các quốc gia trong khu vực và giữa các thành phần kinh tế khác nhau trong mỗi quốc gia. Cuất những năm 40 đến đầu những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu của Chủ nghĩa Cấu trúc dã tận trung bản về mỗi quan hệ của các cơ cầu kinh tế - xã hội và sự phát triển kinh tế được xem như sự thay đổi liên quan đến các cơ cấu đỏ. Các cư cầu kinh tế được xem xét trong lý thuyết nảy bao gỗm: +)ơ cầu giữa các ngành: nông nghiệp, khai khoáng, chế tạo, dich vu; 1)Co cau kinh tế đối ngoại liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, +)Œơ cầu năng suất dược tính theo năng suất trong các ngành kinh tế khác nhau, +)Cơ cầu doanh nghiệp được nghiên cứu thông qua các mô hình và quy mô xí nghiện: !)Cơ cấu xã hội được nghiên cứu gắn với sẽ hữu và kiểm soát tải nguyên, chẳng hạn quyền kiểm soát và sở hữu đất đai. Các nhà Cấu trúc luận chú trọng vào việc nghiên cửu những đặc điểm cơ cấu kinh tế cốt lối nhất, những vấn đẻ kinh tế, xã hội quan trọng và thiết thực nhất của các quốc gia chậm phát triển.
Do vậy, Cấu trúc luận đã ngày càng thu hút được sự tham gia rộng rãi của các nhà khoa học xã hội, đặc biệt là các nhà kinh lễ học. Vì lẽ đó mà nhiều học giả đã oi Chả nghĩa Cấu trúc là mật mân khoa học về kinh tẾ bọc phát triển Cấu trúc luận ra đời sau cuộc đại khủng hoảng những năm 1930, khi con người đã mắt niềm tin vào thị trường tự do truyền thống - hệ thắng đã dây thé giới vào cuộc đại khủng hoảng và suy thoái. Những học giả đứng đầu của Cầu trúc luận đã phê phán lý thuyết kinh lễ lúc đó chỉ bản về sự phát triển ở những nước công nghiệp phát triển, còn hầu như không quan tâm tới các nước đang phát triển, không tập trung giải quyết những khó khăn của các nước này, vì thể không thích hợp cho các nước nghẻo. Chỉ có Cấu trúc luận lả thực sự muốn tìm giải pháp cho những vẫn dé nan giải của các quốc gia đang phát triển; do vậy, đã trở thành lý thuyết chính thống của các nước đang phát triển.
Cấu trúc luận ra dời vào lúc những tư tưởng của Keyncs về vai trỏ trung tâm của Nhà nước trong quản lý kinh tế để khắc phục “những cản trở cơ cấu" đổi với tăng trưởng kinh tế đã được thừa nhận. Do đó, phần nào nó chịu ảnh hưởng của học thuyết Keynes là dễ cao vai trò của Chính phủ trong việc đề xướng vả thực hiện các chương trinh, các kế hoạch kinh tế nhằm khắc phục những thải quá và thất bại của thị trường tự do. Theo quan điểm của Trường phái Cấu trúc luận, Chính phủ các mước đang phát triển cô vai trò trung tâm trong việc khắc phục tình trạng lạc bậm kinh tổ, dòng vai trỏ tích cực với quá trình công nghiệp hóa, đặc biệt là trong việc tăng qui mô tích ly tư bản đề phục vụ phát triển kinh tế ong lĩnh vực kinh lệ đối ngoại, vào những năm 1950-196Q, Câu trúc luận nhân mạnh đến vai trò quan trọng của Nhà nước với bảo hộ công nghiệp trong nước và xây dung co sé ha tang, chéng lại sự xâm nhập và cạnh tranh của tư bản nước ngoài. Trong những năm 1950-1960, Chính phủ nhiều nước đang phát triển đã vận dụng lý thuyết này để xây dựng một chiến lược khá phô biển lúc ấy là chiến luge công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu.
Thực hiện chiễn lược này, Chính phũ của những nước đang phát triển rong đó có Ấn Độ, đã lập nên các hàng rào thuế quan vả phi thuế quan mang tính bảo hộ mậu dịch để đối phó với sự cạnh tranh của hàng hóa nhập khẩu; kích thích sản xuất những hàng, hóa trong nước, từ những hàng hóa tiêu dùng đơn giản như giày dép, quần áo. đến những loại hàng tiêu dùng lâu bền, phức Lạp như phụ tùng, máy móc, xe hơi. và cá những loại sản phẩm trung gian như thép và hóa chất. Chiến lược này được Chính phủ hễ trợ bằng việc khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào công nghiệp chế tạo, con Chính phú thỉ dầu tư cho xây dựng cơ sở hạ tằng và hệ thông sản xuất năng lượng.
Tuy đã có đóng góp đáng kế về quan điểm lý thuyết và sự tăng trưởng thực tiễn của nền kinh tẾ, song Cấu trúc luận đã bộc lộ những hạn chế. Quan điểm “công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu" để thay đổi cơ cấu và đưa nền kinh tế thoát khỏi những ảnh hưởng của hệ thống quốc tế đã trở nên khó thực hiện ý do là quan hệ giữa những mặt hàng nhập khẩu dơn giản dược thay thế bởi sản xuất trong nước với những hàng hóa đòi hỏi vốn đầu tư lớn, công nghệ cao dã trở nên ngày cảng phức tạp, nhận khẩu cao hơn xuất khẩu, dẫn đến mắt cân bằng trong, cán cân thanh toán. I2o đó, tăng trưởng kinh tế không, cao, không xóa bổ được tỉnh trạng đói nghèo của nhân dân các nước dang phát triển nái chung và nhân dân Ấn Đệ nói riêng. Tình trạng này buộc (thính phủ các nước đang phát triển trong đó có An D6 phải chuyển sang chiền lược phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu, với cơ sở lý luận là lý thuyết về Sự phụ thuộc và thuyết Tư do mới sau này.