Chương 1 đã giới thiệu sơ lược về Lý do chọn đề tài và Mục tiêu nghiên cứu cụ thể. Câu hỏi nghiên cứu, Đối tượng nghiên cứu và Phương pháp nghiên cứu cũng được chỉ rõ nhằm làm tiền đề cho các chương tiếp theo. 6 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HỈNH NGHIÊN cứu 2.1 Các khái niệm định nghĩa có liên quan 2.1 Khái niệm về vấn hóa Văn hóa là tổng thể các hoạt động đời sống xã hội tồn tại và phát triển qua các thời kỳ lịch sử, mang giá trị tinh thần của quá trình phát triển nhân loại. Văn hóa được xem như phạm trù triết học, nên nhiều học giả đưa ra các quan niệm khác nhau trong các lĩnh vực: Dân tộc học, Nhân loại học, Văn hóa học, Xã hội học.
Hiện nay, có nhiều định nghĩa về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh góc nhìn khác nhau của học giả, nhà nghiên cứu về văn hóa. Văn hóa luôn tồn tại hai khía cạnh: Khía cạnh vô hình được biểu hiện các giá trị tinh thần của xã hội, khía cạnh hữu hình là những phản ánh hành vi bộc lộ trong đời sống xã hội bằng trực quan. Cả hai khía cạnh này không có ý nghĩa di truyền nhưng luôn được các thành viên trong xã hội đó tán thành, kế thừa và chia sẻ qua các thế hệ (Alfred, 1952). Văn hóa được mô tả các hoạt động diễn ra xung quanh con người, có tính truyền thống, giải thích sự tồn tại, thích nghi, sáng tạo và phát triển của nhân loại qua các thời kỳ lịch sử (Hall, 1976).
Trên góc độ lịch sử, văn hóa được hiểu là quá trình kế thừa truyền thống, những đặc tính của xã hội dựa trên quan điểm về tính ổn định. Edward Sapir (1884 - 1939) đưa ra định nghĩa “Văn hóa chính là bản thân con người, cho dù là những người hoang dã nhất sống trong một xã hội tiêu biểu cho một hệ thống phức hợp của tập quán, cách ứng xử và quan điểm được bảo tồn theo truyền thống”. Tóm lại, quan niệm về văn hóa được nhiều học giả luận giải rất đa dạng và phong phú, phản ánh tất cả các khía cạnh trong đời sống, tinh thần của nhân loại, nhưng nhìn chung đều đề cập đến niềm tin, các hành vi biểu hiện trong đời sống, mang tính khuôn mẫu và được chia sẻ. Nên trong nghiên cứu này, khái niệm văn hóa là các biểu hiện về niềm tin, hành vi và các giá trị xã hội có ảnh hưởng đến các thành viên trong xã hội.2 Khái niệm về văn hóa tổ chức Thuật ngữ về văn hóa tổ chức được đề cập lần đầu tiên bởi Elliott Jaques (1951) định nghĩa rằng: “Văn hoá doanh nghiệp là phong tục, suy nghĩ và cách làm việc truyền thống, không thay đổi theo thời gian, nhất quán của doanh nghiệp, nó được định hướng bởi nhà quản lý và những thành viên của doanh nghiệp”.
Lý thuyết của Kotter và Heskett (1992) thì cho rằng văn hóa tổ chức thể hiện tổng hợp các giá trị và cách hành xử lẫn nhau giữa các nhân viên trong doanh nghiệp và có xu hướng tự lan truyền lẫn nhau, thường trong thời gian dài. Văn hóa tổ chức còn được coi như tính cách riêng của một tổ chức, cho dù các thành viên có trình độ nhận thức và hiểu biết khác nhau, họ vẫn luôn chia sẻ văn hóa tổ chức theo một cách giống nhau. Và văn hóa tổ chức được xem là một phần trong vốn xã hội tạo nên tài sản vô hình quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, tạo nên lợi thế cạnh tranh cũng như sự khác biệt của doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh bên cạnh các yếu tố như nguồn nhân lực, công nghệ, chiến lược, nguồn vốn. Lau và Idris (2001) thì đã tìm ra yếu tố văn hóa tổ chức bao gồm giao tiếp trong tổ chức, đào tạo và phát triển nhân viên, phần thưởng, làm việc nhóm là khía cạnh có thể liên quan đến hiệu suất làm việc của nhân viên.
Lau và Idris (2001) nghiên cứu văn hóa tổ chức theo 04 thành phần: Sự trao đổi thông tin; Đào tạo và phát triển; Phần thưởng và công nhận, Làm việc nhóm. 04 thành phần văn hóa tổ chức của Lau và Idris (2001) cũng đã được nhiều học giả kiểm định. Cũng theo Hellriegel and Slocum (2011) đã định nghĩa rằng: “Văn hóa tổ chức được cấu tạo từ các thành phần của một tổ chức, bền vững theo thời gian và ảnh hưởng đến những công việc và hiệu quả với nhân viên trong một tổ chức”. Văn hóa tổ chức còn được xem là tính cách của tổ chức, mô tả hành vi hành ngày của nhân viên ngay cả khi họ không cần người giám sát, nói cách khác thì đó hành xử, lối sống và thói quen của nhân viên hàng ngày của một doanh nghiệp nào đó (Hellriegel và Slocum, 2011).
Gebremichael Kidanu (2019) đã xác định các yếu tố thuộc văn hóa tổ chức thường được ban hành và tạo ra bởi sự tương tác của các nhân viên, được định hình bởi hành vi bởi lãnh đạo, và một tập hợp các thói quen, quy tắc và các chuẩn mực, hành vi. Có thể thấy, văn hóa tổ chức là nền tảng do doanh nghiệp xây dựng bao gồm các giá trị tinh thần 11 và vật chất từ lúc doanh nghiệp hình thành để nhằm các mục đích chung của tổ chức như xây dựng hình ảnh, tạo động lực làm việc,. Các giá trị này được hình thành trong quá trình làm việc từ các cá nhân trong tổ chức, có thể kiểm soát và thay đổi theo ý muốn và mục đích của nhà quản trị. Có thể nói, văn hóa tổ chức chính là tinh hoa, tài sản và hình ảnh của doanh nghiệp.
Tóm lại các yếu tố thuộc về văn hóa tổ chức là một biến phụ thuộc mà thông qua các biến quan sát bao gồm: “Sự trao đổi thông tin” (Gebremichael Kidanu, 2019); “Đào tạo và phát triển” (Meyer and Allen, 1991), “Phần thưởng và công nhận” (Ooi K. và Veeri, 2006); “Cơ hội thăng tiến”( Hà Nam Khánh Giao và Bùi Nhất Vương, 2016); “Làm việc nhóm” (Lau và Idris, 2001), “ Lãnh đạo” (Martins và cộng sự, 2002).3 Khái niệm về sự gắn bó Becker (1960) cho rằng khi mối quan hệ của cá nhân và tổ chức gắn kết với nhau sẽ tạo nên sự gắn bó. Sự cam kết này hình thành khi cá nhân tin tưởng hoàn toàn vào tổ chức, kể cả không vì những lợi ích cá nhân. Tác giả Becker nhận định rằng, sự gắn bó của nhân viên với tổ chức là két quả của mối quan hệ trao đổi giữa cá nhân người lao động và tổ chức.
Lý do của sự gắn bó với tổ chức có thể là do người lao động quan tâm đến một vấn đề khác mà không liên quan đến tổ chức. Mối quan tâm đó có thể là giá trị của cá nhân, vị trí của nghề nghiệp hay những nhân tố bối cảnh khác. Penley và cộng sự (1988) đã nói về sự gắn bó với tổ chức là khi một nhân viên tình nguyện cống hiến năng lượng và lòng trung thành cho một tổ chức. Robinson et al.
(2004) định nghĩa gắn bó như là: “Một thái độ tích cực của người lao động theo hướng có tổ chức và giá trị của người lao động nhận được khi làm việc và làm việc vói các đồng nghiệp để cải thiện hiệu suất công việc vì lợi ích chung của tổ chức. Các doanh nghiệp để phát triển và duy trì cần người lao động, vì vậy một mối quan hệ hai chiều giữa doanh nghiệp và người lao động được thiết lập, đó là sự gắn bó”. Theo Muthuveloo và Rose (2005) đã nói rằng: “ Sự gắn bó là sự sẵn sàng của nhân viên chấp nhận các mục tiêu và giá trị của tổ chức nhằm hướng đến hiệu quả đề ra.” Sự gắn kết vói tổ chức càng cao dẫn đến sự trung thành của người lao động đối với tổ chức càng cao, do đó sẽ giảm áp lực căng thẳng do công việc và họ sẽ ít rời bỏ tổ chức hon. Sự gắn kết của người lao động với tổ chức là sự đóng góp của người lao động để tăng cam kết của họ đối vói thành công của tổ chức.
Nếu như tổ chức cho người lao động tham gia vào những quyết định ảnh hưởng tới họ và tăng tính tự quyết và 12 sự kiểm soát công việc của họ thì họ sẽ được thúc đẩy nhiều hơn, có trách nhiệm hơn với tổ chức, có năng suất lao động cao hơn và thỏa mãn hơn trong công việc. Nghiên cứu của Macey (2008) đã chỉ ra rằng sự gắn bó của nhân viên gồm hai chiều hướng là cảm thấy gắn bó và nhìn thấy sự gắn bó. Sự gắn bó của nhân viên với tổ chức có ý nghĩa rất quan trọng bởi sự gắn bó giữa nhân viên với tổ chức liên quan đến thành công của từng cá nhân và hiệu quả của tổ chức. Sự gắn kết của nhân viên đối với tổ chức sẽ giúp tiên lượng được kết quả lao động của nhân viên, thành công của tổ chức và hiệu quả tài chính.
Aydin và cộng sự (2011) định nghĩa sự cam kết của tổ chức là một mong muốn là thành viên của tổ chức, cùng xác định mục đích, góp phần tạo thành công của tổ chức, thể hiện lòng trung thành của nhân viên và sẵn sàng nỗ lực vì tổ chức. Idris và Manganaro (2017) đã nói rằng: “Cam kết tổ chức là các cá nhân xác định tâm lý đồng nhất với tổ chức mà họ làm việc”. Có thể thấy sự cam kết gắn bó là trạng thái cảm xúc mà mỗi cá nhân sự cảm nhận thông qua sự hài lòng từ những thứ phía doanh nghiệp đáp ứng, từ đó nhân viên mong muốn cống hiến và toàn tâm thực hiện những mục tiêu tổ chức đề ra. Các trạng thái này có thể được thể hiện thông qua việc tin tưởng vào sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức, quan tâm, cố gắng vì hoạt động kinh doanh và tự hào về doanh nghiệp.2 Các mô hình lý thuyết có liên quan Các vấn đề về văn hóa tổ chức đã được định nghĩa từ rất sớm, định nghĩa về văn hóa tổ chức tác động đến người lao động đã xuất hiện hon 70 năm trước.
Các nghiên cứu đã thực hiện tại các nước đã chứng minh được những yếu tố về văn hóa tổ chức tác động khá nhiều đến sự gắn bó của nhân viên. Các nghiên cứu đã xuất hiện và được thực hiện dưới các dạng mô hình sau: 2.1 Lý thuyết nền có liên quan 2.1 Lý thuyết về các cấp độ văn hóa tồ chức của Schein (1996) Tùy vào cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu nên có thể thấy quan điểm của văn hóa tổ chức của mỗi người là không hoàn toàn giống nhau và có nhiều mô hình các yếu tố khác nhau.