CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Lý luận chung về hiệu quả 1. Khái niệm Hiệu quả là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí mà chủ thể phải bỏ ra để đạt được kết quả đó trong những điều kiện nhất định. Ta có thể hiểu như sau: Nếu ký hiệu : K là kết quả nhận được theo hướng mục tiêu và C : là chi phí bỏ ra ; H : là hiệu quả, thì ta có công thức hiệu quả chung là : H = K-C : hiệu quả tuyệt đối H = K/C : hiệu quả tương đối Một cáchchung nhất, kết quả (K) mà chủ thể nhận được theo hướng mục tiêu hoạt động của mình càng lớn hơn chi phí (C) bỏ ra bao nhiêu thì càng có lợi bấy nhiêu.
Hiệu quả là một chỉ tiêu phản ánh mức độ thu lại được kết quả nhằm đạt được một mục đích nào đó tương ứng với một đơn vị nguồn lực phải bỏ ra trong quá trình thực hiện hoạt động nhất định. Phân loại hiệu quả Hiệu quả được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau được chia thành nhiều loại khác nhau : - Hiệu quả tổng hợp - Hiệu quả kinh tế - Hiệu quả gián tiếp và hiệu quả trực tiếp - Hiệu quả tương đối và hiệu quả tuyệt đối 4 - Hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế quốc dân - Hiệu quả trước mắt và hiệu quả lâu dài 1. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1. Một số khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Từ trước đến nay khi đề cập đến hiệu quả kinh doanh có rất nhiều quan niệm được đưara và chúng không hoàn toàn thống nhất.Ở mỗi hình thái xã hội, mỗi giai đoạn phát triển thì “hiệu quả kinh doanh” lại được nhìn nhận trên các khía cạnh khác nhau.
Tuy nhiên dưới đây ta sẽ xem xét 1 số quan điểm sau: Quan điểm 1: Trong xã hội tư bản, việc phấn đấu tăng hiệu quả kinh doanh thực chất là đem lại nhiều lợi nhuận hơn nữa cho các nhà tư bản, những người nắm quyền sở hữu về tư liệu sản xuất. Adam Smith cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là kết quả đạt được từ hoạt động kinh tế, là doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hóa” hay hiệu quả là tốc độ tăng của kết quả đạt được như: Tốc độ tăng doanh thu, lợi nhuận. Như vậy, theo quan điểm này hiệu quả được đồng nhất với các chỉ tiêu kết quả hay nhịp độ tăng của các chỉ tiêu đó. Nhiều người đánh giá đây là quan điểm phản ánh tư tưởng trọng thương của Adam Smith và không còn phù hợp với điều kiện hiện tại vì nó chưa quan tâm đến nguyên nhân làm tăng doanh thu hay kết quả kinh doanh cũng như chưa thấy được mối quan hệ với các yếu tố đầu vào.
Quan điểm 2: Quan điểm cho rằng “Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Công thức biểu diễn: H = ∆ K/ ∆C ∆ K: Phần gia tăng của kết quả kinh doanh ∆ C: Phần gia tăng của chi phí kinh doanh H: Hiệu quả kinh doanh Quan điểm này tuy đã biểu hiện được mối quan hệ tương quan giữa kết quả đạt được với chi phí tiêu hao nhưng chưa thật sụ đầy đủ và trọn vẹn vì nó 5 chỉ đề cập đến hiệu quả của phần tăng thêm bằng cách so sánh giữa phần gia tăng của kết quả kinh doanh và phần gia tăng của chi phí kinh doanh chứ chưa đề cập đến toàn bộ phần tham gia vào quá trình kinh doanh. Xét trên quan điểm Triết học Mác-Lênin thì mọi sự vật, hiện tượng đều có mối quan hệ mật thiết, hữu cơ với nhau chứ không tồn tại một cách riêng lẻ, độc lập.Sản xuất kinh doanh không nằm ngoài quy luật này. Các yếu tố tăng thêm hay giảm đi có liên hệ với các yếu tố sẵn có.
Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tới kết quả kinh doanh.Hiệu quả kinh doanh luôn là kết quả tổng hợp của toàn bộ phần tham gia vào quátrình kinh doanh. Quan điểm 3: Trong xã hội XHCN, phạm trù hiệu quả vẫn tồn tại vì sản phẩm xã hội vẫn được sản xuất ra từ tài sản thuộc quyền sở hữu Nhà nước, toàn dân và tập thể. Tuy nhiên mục đích của nền sản xuất XHCN khác với nền sản xuất TBCN ở chỗ hàng hóa sản xuất ra là để đáp ứng tốt nhất nhu cầu của tất cả mọi người.Đứng trên lập trường tư tưởng đó, hiệu quả kinh doanh được quan niệm là mức thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản của xã hội XHCN.Quy luật cho rằng tiêu dùng là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của xã hội loài người. Khó khăn ở đây là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó bởi đời sống của nhân dân nói chung và mức sống nói riêng là rất đa dạng và phong phú.
Quan niệm thống nhất Từ những quan điểm khác nhau về hiệu quả sản xuất kinh doanh của các nhà kinh tế ta có thể đưa ra được một khái niệm chung, thống nhất về hiệu quả sản xuất kinh doanh như sau: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá việc thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kỳ. Bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh Hiệu quả sản xuất kinh doanh là phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động kinh doanh, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất trong quá trình tiến hành các hoạt động sản xuấtkinh doanh của doanh nghiệp. Bản chất hiệu quả sản xuất kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội.
Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế.Để đạt được mục tiêu kinh doanh các doanh nghiệp phải chú trọng và phát huy tối đa năng lực, hiệu năng của các yếu tố sản xuất, tiết kiệm mọi chi phí. Tuy vậy để hiểu rõ bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh cần phân biệt hai khái niệm: Hiệu quả và kết quả sản xuất kinh doanh. Kết quả là phạm trù sản xuất phản ánh những cái thu được sau một khoảng thời gian sản xuất kinh doanh được biểu hiện ở đơn vị hiện vật và đơn vị giá trị. Kết quả còn phản ánh qui mô hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiệu quả là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất hay phản ánh mặt chất lượng của quá trình kinh doanh. Việc xác định hiệu quả kinh doanh cũng rất phức tạp bởi kết quả kinh doanh và hao phí nguồn lực gắn với một thời kì cụ thể nào đó đều rất khó xác định một cách chính xác.Nếu kết quả là mục tiêu của quá trình sản xuất kinh doanh thì hiệu quả là phương tiện để đạt được mục tiêu đó. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt được lợi nhuận tối đa với chi phí là tối thiểu[14] 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh 1.
Nhân tố bên ngoài - Đối thủ cạnh tranh: Đối thủ cạnh tranh có ảnh hưởng rất lớn đến việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì nếu doanh nghiệp kinh doanh trong môi trường cạnh tranh gay gắt, đối thủ cạnh tranh mạnh để tồn tại được thì doanh nghiệp phải ngày càng phát triển bằng cách nâng cao chất lượng sản 7 phẩm, mẫu mã chủng loại đa dạng hay hạ giá thành sản phẩm để đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ, tăng doanh thu, tăng vòng quay của vốn. - Thị trường: Nhân tố thị trường ở đây bao gồm cả thị trường đầu vào và thị trường đầu ra của doanh nghiệp. Nó là nhân tố quyết định quá trình tái sản xuất mở rộng của doanh nghiệp.
Đối với thị trường đầu vào: cung cấp các yếu tố cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, máy móc thiết bị,. cho nên tác động trực tiếp đến giá thành sản phẩm, tính liên tục và hiệu quả của quá trình sản xuất. Đối với thị trường đầu ra quyết định doanh thu của doanh nghiệp trên cơ sở chấp nhận hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp. Thị trường đầu ra sẽ quyết định tốc độ tiêu thụ, tạo vòng quay vốn nhanh hay chậm từ đó tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Tập quán dân cư, mức độ thu nhập bình quân dân cư: Đây là một nhân tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.Nó quyết định mức độ, chất lượng, chủng loại. Doanh nghiệp vần phải nắm bắt và nghiên cứu làm sao cho phù hợp với sức mua, thói quen tiêu dùng, mức thu nhập bình quân của tầng lớp dân cư. - Mối quan hệ và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường: Đây chính là tiềm lực vô hình của doanh nghiệp tạp nên sức mạnh của doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Một hình ảnh, một uy tín tốt về doanh nghiệp liên quan đến hàng hóa, dịch vụ, chất lượng sản phẩm, giá cả. là cơ sở tạo sự quan tâm của khách hàng đến sản phẩm của doanh nghiệp.
Mặt khác tạo ra cho doanh nghiệp một ưu thế trong việc tạo nguồn lực vốn hay mối quan hệ với bạn hàng. Với mối quan hệ mở rộng sẽ tạo cho doanh nghiệp nhiều cơ hội, phương án kinh doanh tốt nhất cho doanh nghiệp. - Nhân tố môi trường tự nhiên: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố như khí hậu, thời tiết, mùa vụ, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý. Những nhân tố này ảnh hưởng rất 8 lớn tới quy trình công nghệ, tiến độ thực hiện sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp kinh doanh các mặt hàng mang tính mùa vụ hay trong lĩnh vực khai thác.
- Môi trường chính trị pháp luật: Các yếu tố thuộc môi trường pháp luật chi phối mạnh mẽ đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mức độ hoàn thiện, sự thay đổi và thực thi pháp luật trong nền kinh tế có ảnh hưởng đến việc hoạch định, tổchức thực hiện chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường này tác động trực tiếp đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.