Chương 1 TỔNG QUAN VỀ DI SẢN VĂN HÓA ĐỒNG NAI 1. Vài nét về tỉnh Đồng Nai 1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Tỉnh Đồng Nai có diện tích tự nhiên là 5. Địa giới hành chính Đồng Nai tiếp giáp các tỉnh: Phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận, Đông Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng; phía Tây Bắc giáp tỉnh Bình Dương và tỉnh Bình Phước; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu; phía Tây giáp Thành Phố Hồ Chí Minh.
Toàn tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc bao gồm thành phố Biên Hòa, thành phố Long Khánh và 9 huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, Thống Nhất, Vĩnh Cửu, Tân Phú, Định Quán, Trảng Bom, Xuân Lộc và Cẩm Mỹ [38:6]. Ngày nay, tỉnh Đồng Nai có vị trí hết sức quan trọng, ở trung tâm Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam – vùng kinh tế năng động nhất cả nước, giữ vai trò trọng yếu trong vùng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng. Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, cận xích đạo, gió mùa. Thời tiết trong năm chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng tháng 5 đến tháng 11 hàng năm và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau; chế độ nắng, gió, mưa, nhiệt, ẩm ở tỉ lệ cao, ổn định và phân bổ khá đồng đều giữa các vùng là điều kiện tốt cho sản xuất nông nghiệp, phát triển công nghiệp và sinh hoạt văn hóa, du lịch của nhân dân.
Về tài nguyên đất, Đồng Nai có 10 loại đất chính được chia thành 3 nhóm chủ yếu theo nguồn gốc hình thành: Nhóm đất hình thành trên đá bazan gồm đá bọt, đất đen, đất đỏ; nhóm đất hình thành trên nền phù sa cổ và đá phiến sét bao gồm đất xám, nâu xám.; nhóm đất thủy thành bao gồm đất phù sa, đất gley, đất cát. Nhìn chung, Đồng Nai có nhiều loại đất có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như: cao su, cà phê, điều, đậu nành. Đồng Nai có mạng lưới sông, suối dày đặc (trên 40 sông suối lớn nhỏ) với diện tích mặt nước khoảng 16.666 ha, chiếm tỷ lệ 2,8% diện tích tự nhiên. Hệ thống sông, hồ, suối, thác không những là nguồn cung cấp nước cho tỉnh mà còn 9 có giá trị khai thác thủy điện như Thủy điện Trị An và đặc biệt là tiềm năng phát triển du lịch sông nước của tỉnh [38:7].
Tài nguyên rừng Đồng Nai còn tương đối phong phú, năm 2018 diện tích rừng của tỉnh là 177.939 hecta, độ che phủ 30,1%; trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 119.950 hecta và diện tích rừng trồng là 57. Thảm thực vật rừng ở Đồng Nai thuộc hệ sinh thái rừng ẩm nhiệt đới gió mùa mưa nhiều với hệ thực vật, động vật đa dạng về chủng loài. Các kiểu rừng tự nhiên cơ bản có kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới và kiểu rừng kín nửa rụng lá nhiệt đới ẩm [38:7,8]. Các loại khoáng sản của tỉnh Đồng Nai không nhiều, trữ lượng không lớn để phát triển ngành công nghiệp khai khoáng có qui mô.
Riêng nguồn khoáng sản làm vật liệu xây dựng (đá, cát, sét, laterit, puzolan, kermzit) là thế mạnh của tỉnh, không những cung cấp đủ phục vụ công nghiệp vật liệu xây dựng trong tỉnh mà còn cung cấp cho các tỉnh lân cận, trong đó các mỏ đá của Đồng Nai có trữ lượng lớn gần nửa tỷ m3 phân bố đều khắp các huyện. Sét gạch ngói phân bố ở nhiều vùng trong tỉnh, có thể khai thác hàng triệu m3/năm. Cát xây dựng tập trung chủ yếu ở lòng sông Đồng Nai với trữ lượng khá lớn và hàng năm lại được bổ sung từ thượng nguồn[58]. Nhìn chung so với các tỉnh phía Nam, Đồng Nai là một tỉnh được tận hưởng ưu đãi của thiên nhiên miền nhiệt đới, có cơ cấu quỹ đất phong phú thích hợp với các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao; khí hậu ôn hòa, hai mùa mưa nắng rõ rệt, ít có lốc và bão; có hệ thống rừng tự nhiên dồi dào giá trị sinh thái, sinh cảnh; có hệ thống sông ngòi giàu tiềm lực thủy năng, tiện lợi cho giao thông cũng như cung cấp nước sinh hoạt nước và cho các loại hình kinh tế công - nông - lâm - ngư nghiệp và phát triển dịch vụ du lịch.
Vì vậy, trong tiến trình lịch sử Đồng Nai luôn là địa bàn hấp dẫn cho lưu dân tứ xứ, là vùng đất giao lưu, dung hợp, tiếp biến nhiều luồng văn hóa. Cư dân và lao động 10 Cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, vùng đất Đồng Nai trở nên sôi động với sự xuất hiện của lớp cư dân di cư người Việt từ miền Thuận Quảng và nhóm người Hoa theo Trần Thượng Xuyên vào hợp cùng các cư dân bản địa cùng nhau khai khẩn mở mang cương vực. Trải qua thời gian vùng đất Đồng Nai trở thành nơi sinh sống đông đúc, với nhiều làng, ấp trù phú. Đến nay, ở Đồng Nai còn tồn tại nhiều làng, xã có tuổi đời gần 300 năm như làng Phú Hội, làng Hiệp Phước huyện Nhơn Trạch), Làng Bến Gỗ (huyện Long Thành); làng Bến Cá - Tân Triều (huyện Vĩnh Cửu); xã Hiệp Hòa (thành phố Biên Hòa).
Tính đến năm 2018, dân số của tỉnh Đồng Nai có 3.086,07 nghìn người, bao gồm dân số thành thị 1.098,74 người, chiếm 35,6%; dân số nông thôn 1.987,33 nghìn người, chiếm 64,4%; mật độ dân số đạt 528 người/km2. Tháp tuổi dân số của tỉnh Đồng Nai khá trẻ cộng với quá trình phát triển nhanh chóng của các khu công nghiệp trên địa bàn tạo sức hút tăng dân số cơ học, làm dân số của tỉnh tăng nhanh [13:55]. Điều kiện kinh tế - xã hội Tỉnh Đồng Nai đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Từ năm 2000 đến năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Đồng Nai bình quân đạt trên 12%/năm.
Tổng sản phẩm quốc nội (GRDP) trên địa bàn tỉnh năm 2018 đạt 222. GDP bình quân đầu người đạt 102,32 triệu đồng, tương đương 4. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng nhanh tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông - lâm - thủy sản trong tổng giá trị sản phẩm địa phương. Năm 2005 tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng là 52,2%, ngành dịch vụ chiếm 25,6%, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 22,2% thì đến năm 2018, công nghiệp - xây dựng là 57,9%, ngành dịch vụ chiếm 37,1% và ngành nông - lâm - thủy sản giảm chỉ còn 5,0% [57].1: Tổng giá trị sản phẩm địa phương (GRDP) tỉnh Đồng Nai theo giá so sánh năm 2010 Đơn vị tính: Tỷ đồng Chia ra Năm Tổng số Nông, lâm Thuế sản Công nghiệp nghiêp - thủy Dịch vụ phẩm trừ trợ - xây dựng sản cấp sản phẩm 2010 122.972,1 Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai năm 2018 Biểu đồ 1.
Tổng giá trị sản phẩm địa phương(GRDP) tỉnh Đồng Nai các năm 2010, 2015 và 2018. Đơn vị tính: nghìn tỷ 12 Đầu tư công nghiệp của tỉnh Đồng Nai vào bậc nhất cả nước, trên địa bàn tỉnh có nhiều khu công nghiệp tập trung ở hầu hết các huyện, thành phố. Tính đến năm 2018, Đồng Nai có 31 KCN đã đi vào hoạt động, thu hút hơn 1.200 dự án đầu tư nước ngoài và gần 500 dự án đầu tư trong nước [59]. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2018 theo giá hiện hành đạt 79.903,60 tỷ đồng (bằng 25,3% GRDP), trong đó vốn đầu tư ngành công nghiệp - xây dựng là 46.969,75 tỷ đồng chiếm 58,78% tổng vốn đầu tư.
Về thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) chỉ tính riêng năm 2018 có 131 dự án cấp phép mới với số vồn đăng ký đạt 1.045 triệu USD, số vốn đầu tư được thực hiện trong năm 2018 là 381 triệu USD [14:119]. Trong lĩnh vực thương mại - dịch vụ, tỉnh Đồng Nai có hệ thống chợ truyền thống, siêu thị khá phong phú, phân bố rộng khắp trên các địa bàn đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu của người dân. Kim ngạch xuất - nhập khẩu của tỉnh chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng kim ngạch cả nước: Năm 2018, kim ngạch xuất khẩu đạt 18.610 triệu USD; kim ngạch nhập khẩu đạt 16. Các ngành dịch vụ góp phần quan trọng vào tổng sản phẩm trong tỉnh và tạo tiền đề cho các ngành và lĩnh vực khác phát triển.
Lĩnh vực sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản của tỉnh trong nhiều năm phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và tăng thu nhập của người dân. Cơ cấu cây trồng tiếp tục chuyển đổi theo hướng tăng nhanh diện tích một số cây công nghiệp, cây ăn trái có giá trị kinh tế cao, sử dụng các loại giống mới trong trồng trọt nhằm tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Hoạt động chăn nuôi phát triển theo hướng tập trung và từng bước hiện đại, các trang trại và doanh nghiệp không ngừng mở rộng quy mô chăn nuôi, tăng số lượng đàn gia súc và gia cầm như trâu, bò, heo, gà, vịt. và tăng sản lượng thịt cung cấp cho thị trường tiêu thụ.
Cơ sở hạ tầng trong tỉnh từng bước được đầu tư xây dựng phục vụ đắc lực các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội và dân sinh. Đến cuối năm 2018, hệ thống giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh được phát triển có tổng chiều dài khoảng 6.876,5 km, bao gồm đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện (đường đô 13 thị), đường xã (phường, thị trấn), đường chuyên dùng. Tuyến đường sắt thống nhất Bắc – Nam đi qua tỉnh có chiều dài 87,5 km, toàn tỉnh có 24 tuyến đường sông đang hoạt động, tổng chiều dài 431 km [38:16]. Đến nay, hệ thống lưới điện đã được kéo phủ khắp toàn tỉnh đến 100% số xã, phường, thị trấn, đến năm 2018, tỷ lệ hộ sử dụng điện sinh hoạt đạt 99,84%, trong đó thành thị đạt 100% và nông thôn đạt 99,67% [13:374].
Toàn tỉnh có 19 nhà máy nước đang hoạt động, tổng công suất các nhà máy nước đạt khoảng 310.000 m3/ngày, cơ bản đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu nước máy phục vụ nhu cầu sinh hoạt của dân cư đô thị, các khu công nghiệp và một số điểm dân cư nông thôn. Lĩnh vực văn hóa - y tế - giáo dục của tỉnh được tập trung đầu tư cơ sở vật chất và từng bước nâng chất lượng. Đến năm 2018, tỷ lệ xã, phường có trường tiểu học, trường mầm non đạt 100%, có trường trung học cơ sở đạt 95% [14:475].