Chương 1 MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE TUYÊN TRUYEN GIÁO DỤC PHÁP LUAT TRONG VUNG DONG BAO DAN TOC TREN BAO CHÍ TRÀ VINH 1. Cac khái niệm cơ ban 1. Báo chi và thông tin báo chi Trong tiễn trình phát triển của nhân loại, báo chí là một hiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người. Thông tin là chức năng sơ khai của báo chí, theo nghĩa sử dụng là phương tiện kỹ thuật để phố biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo.
Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội. Khoản 1, Điều 4 Luật Báo chí 2016 ghi nhận: “Bdo chi ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Dang, cơ quan Nhà nước, tô chức xã hội (dưới đây gọi chung là tổ chức); là diễn đàn của nhân dân”. Báo chí là môt bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng. Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng: và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng - trước hết phải nói đến báo chí.TS Nguyễn Văn Dững, khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống; nhìn nhận báo chí như một tiêu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung; trong đó, báo chí là một bộ phận cau thành và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiêu hệ thống (hoặc hệ thống con).
Báo chí có chức năng, vai trò ngày cảng quan trọng trong đời sống xã hội. Đó là các chức năng thông tin, chức năng tư tưởng, chức năng khai sang - giải trí, chức năng tô chức - quản lý, giám sát và phản biện xã hội, chức năng kinh tế - dịch vụ. Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguôn của báo chí. Báo chí ra 17 đời là dé đáp ứng, thỏa mãn nhu cau thông tin giao tiếp của con người và xã hội.
Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì nhu cầu thông tin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú. Chức năng tư tưởng là chức năng xuyên suốt, thé hiện tính mục đích của báo chí. Với chức năng này, theo quan điểm của Đảng ta, báo chí là công cụ, phương tiện quan trọng dùng dé truyền bá hệ tư tưởng của Đảng, giáo duc lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và làm cho hệ tư tưởng - lý luận này trở thành chủ đạo, chiếm ưu thé trong đời sống tinh than, tư tưởng của đông đảo nhân dân. Chức năng khai sáng - giải trí được hiểu rang báo chí không chỉ là kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, mà còn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, dap ứng nhu cầu phát triển bền vững.
Văn hóa là hiện tượng xã hội đặc biệt. Hệ thống giá trị văn hóa được tôn tại và phát triển trong quá trình giao lưu và truyền tải từ người này sang người khác, từ cộng đồng này sang cộng đồng khác và từ thế hệ này đến thế hệ khác. Báo chí là kênh quan trọng cung cấp thông tin, kiến thức, giáo dục, giao lưu, truyền tải, tiếp biến văn hóa có hiệu quả nhất. Giải trí là nhu cầu ngày càng đòi hỏi cao trong điều kiện kinh tế thị trường.
Đó là quá trình báo chí tham gia và tạo điều kiện giúp công chúng sử dụng thời gian rỗi hợp lý, đáp ứng nhu cầu cân băng trạng thái tâm lý để tái sản xuất sức lao động. Chức năng quản lý, giám sát và phản biện xã hội của báo chí thé hiện ở chỗ, báo chí duy trì và phát triển mối liên hệ chặt chẽ giữa chủ thể và khách thể quản lý thông qua việc duy trì và phát triển dòng thông tin hai chiều, bảo đảm cho các quyết định quản lý được thông suốt và thực thi. Giám sát có thể được hiểu là “theo dõi, kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không”. Giám sát có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm cho hoạt động được thực hiện đúng mục đích và đạt hiệu quả tốt nhất trong điều kiện có thể, theo mục tiêu, chương trình, kế hoạch đã đề ra.
Chức năng kinh tế - dịch vụ. Chức năng này xuất phát từ đòi hỏi khách quan của họat động báo chí trong nên kinh tế thị trường. 18 Như vậy, báo chí trước hết là thông tin được hiểu là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sông. Tat cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội báo chí phản ánh nhăm thực hiện nhu cầu tìm hiểu, khám phá con người.
Đồng thời là phương tiện, công cụ chuyên tải tác phẩm báo chí đến công chúng. Trong hoạt động báo chí, thông tin là công cụ chủ yếu dé nhà báo thực hiện mục đích của mình. Thông tin trở thành cầu nối báo chí và công chúng. Căn cứ việc phân loại theo hình thức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chữ viết (báo in); thông tin bang tiếng nói (phát thanh); thông tin bằng hình ảnh (truyền hình); thông tin trên mạng internet (đa phương tiện).
Hiện nay, trong đời sống xã hội, thông tin đại chúng là một nhu cầu của đời sông tinh thần xã hội. Con người cần thông tin không chi dé tồn tại mà còn dé sống. Thông tin không chỉ là nguyên liệu, là vật liệu của sự sáng tạo mà còn là chất kích thích, chất men say của sự sáng tạo của con người. Hiện nay việc sử dụng thông tin, tiêu dùng thông tin là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ văn hóa của mỗi cá nhân, mỗi quốc gia và mỗi khu vực.
Nhờ có thông tin đại chúng con người có điều kiện hưởng thụ những giá tri văn hóa do minh tạo ra ở moi noi. Tuyên truyền Tuyên truyền là truyền bá giáo dục giải thích nhăm chuyền biến và nâng cao về nhận thức; bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, xây dựng thành niềm tin; thúc day mọi người (đối tượng tuyên truyền hành động một cách tự giác, nhằm thực hiện thắng lợi những mục tiêu, nhiệm vụ đề ra) [44, tr. Từ khái niệm về tuyên truyền như trên có thé thay công tác tuyên truyền trong đồng bào Khmer là hoạt động có mục đích, có kế hoạch nhằm phổ biến, giải thích những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, làm cho đồng bào Khmer hiểu rõ, cô vũ, động viên họ tự giác làm theo. Đồng thời, tuyên truyền cho đồng bào Khmer còn nhằm giáo dục, bồi dưỡng về đạo đức, lỗi sông, nếp sống mới, văn minh, tiến bộ, về truyền thống cách mạng của dân tộc; bồi dưỡng kiến thức khoa học - kỹ thuật và các kiến thức cần thiết khác dé đồng bào 19 Khmer tham gia xây dựng phum sóc văn hóa, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Giáo dục Theo từ điển Tiếng Việt: “Gido duc là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển cua tinh thân, thé chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ay dan dan có được những phẩm chất và năng lực như yêu cau dé ra” [44, tr. Còn theo các giáo trình về Giáo dục học ở Việt Nam: “Giáo duc là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử - xã hội của các thế hệ loài người ”. Dinh nghĩa nay nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhân mạnh đến yếu tô dạy học, nhưng không dé cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó. Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách.
Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, căm trại, tham quan. được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục. Giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức. Sự ra đời và phát triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội.
Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra. Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngay cảng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại. Có thé kết luận rằng, giáo dục là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, 20 phải truyền tải lại cho thé hệ sau tat cả những gì có thé dé làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn. Dân tộc Khái niệm dân tộc trong tiếng Việt được hiểu theo các nghĩa: Dân tộc (cộng đồng): Theo nghĩa rộng là cộng đồng người có chung nền văn hóa, nhóm sắc tộc, ngôn ngữ, ngudn góc, lich sử; đôi khi bao gồm nhiều nhóm sắc tộc.
Dân tộc trong trường hợp quốc gia dân tộc còn được gọi là quốc dân [44, tr. Sắc tộc: Chỉ nhóm xã hội được phân loại dựa trên nhiều nét chung như di sản văn hóa, nguồn gốc, lịch sử, ngôn ngữ hoặc phương ngữ. Theo từ điển tiếng Việt: “Dân tộc là tên gọi các cộng dong người hình thành trong lịch sử ở những giai đoạn phát triển khác nhau; tên gọi những cộng dong người có chung ngôn ngữ, một lãnh thổ, một nên kinh tế và một truyền thống văn hoa”.