ĐẶT VẤN ĐỀ Rừng có vai trò rất quan trọng trong đời sống con người, điều đó được khẳng định trong nhiều Công ước quốc tế mà chính phủ Việt Nam đã ký kết như CITES - 1973, RAMSA - 1998, UNCED - 1992, CBD - 1994, UNFCCC - 1994, UNCCD - 1998. Tuy nhiên, tài nguyên rừng đang ngày càng bị suy giảm. Theo FAO, trong mấy chục năm qua trên thế giới đã mất đi trên 200 triệu ha rừng tự nhiên, trong khi đó phần lớn diện tích rừng còn lại bị thoái hoá nghiêm trọng cả về đa dạng sinh học và chức năng sinh thái. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác quản lý, sử dụng tài nguyên rừng không hợp lý, không đảm bảo phát triển bền vững, đặc biệt là về mặt xã hội và môi trường.
Trong giai đoạn hiện nay quản lý rừng bền vững (QLRBV) được đặt ra như là một yêu cầu cấp thiết đối với mỗi quốc gia và cộng đồng quốc tế. Đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, nhờ sáng kiến của những người sử dụng và kinh doanh gỗ về việc chỉ buôn bán và sử dụng gỗ có nguồn gốc từ các khu rừng đã được quản lý bền vững, từ đó một loạt các tổ chức QLRBV đã ra đời và có phạm vi hoạt động khác nhau trên thế giới như Montreal, ITTO, Pan - European, Africal Timber Organization Initiative, CIFOR và FSC, trong đó chứng chỉ FSC là có uy tín và có phạm vi áp dụng rộng rãi nhất. Hợp tác lâm nghiệp trong khối ASEAN cũng chủ yếu xoay quanh chủ đề QLRBV với 2 lý do: một là xu hướng mất rừng của các nước đang phát triển do áp lực của dân số, lương thực, khai thác trái phép, cháy rừng,. hai là bị thị trường thế giới từ chối dần việc nhập khẩu nếu đồ gỗ không có chứng chỉ QLRBV.
Chứng chỉ rừng thực chất là chứng chỉ ISO 9000 và 14000 về công nghệ và môi trường cho chủ doanh nghiệp lâm nghiệp, vì lợi ích của chính mình và lợi ích, uy tín của quốc gia mình, các chủ rừng tự nguyện tham gia vào quá trình QLRBV và nhận được chứng chỉ rừng. Ở Việt Nam, từ năm 1945 đến 1990 diện tích rừng liên tục giảm từ 14,3 xuống 9,2 triệu ha, độ che phủ còn 27,2% mà lý do chính là do quản lý và sử dụng rừng không bền vững. Từ sau năm 1992 thông qua các chương trình lớn như dự án 327 và 661,… gần 3 triệu ha rừng đã được phục hồi, góp phần thúc đẩy ngành lâm nghiệp phát triển và cân bằng môi trường cho đất nước. Theo kết quả kiểm kê rừng công bố ngày 17/7/2008 của Bộ Nông nghiệp và PTNT thì đến hết 31/12/2007 diện tích rừng nước ta đã tăng lên 12.333 triệu ha với độ che phủ là 38,2%.
Để giữ được diện tích rừng hiện có và phát triển thêm vốn rừng thì QLRBV là một yêu cầu rất cần thiết ở nước ta. Trong Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp giai đoạn 2006 - 2020 ghi rõ: Thiết lập, quản lý, bảo vệ và phát triển bền vững 3 loại rừng; đẩy mạnh xây dựng thương hiệu và cấp chứng chỉ rừng cho các mặt hàng xuất khẩu; Nâng cấp năng lực quản lý cho chủ rừng, xây dựng các tiêu chuẩn và cấp chứng chỉ rừng, mục tiêu đến năm 2020 ít nhất 30% diện tích rừng sản xuất được cấp chứng chỉ rừng. Chương trình Quản lý và phát triển bền vững – là một trong 5 chương trình trọng điểm quốc gia về lâm nghiệp, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc lần đầu tiên xác định cho đất nước một lâm phận ổn định 15,6 triệu ha, với 7,8 triệu ha rừng sản xuất, có 30% được cấp chứng chỉ QLRBV, cung cấp 22,2 triệu m3 gỗ/năm đạt kim ngạch xuất khẩu 7,8 tỷ USD vào năm 2020. QLRBV đòi hỏi phải phải đáp ứng bền vững trên cả 3 khía cạnh: kinh tế, xã hội và môi trường, trong đó hiện nay ở Việt Nam yếu tố xã hội được đặc biệt quan tâm vì nó gắn liền với đời sống hàng chục triệu người dân miền núi, gắn với chủ trương xóa đói giảm nghèo và chính sách đầu tư của Chính phủ.
Điều này có ý nghĩa hơn trong bối cảnh Nhà nước đang có những thay đổi lớn về chính sách quản lý rừng và tổ chức ngành lâm nghiệp; việc sắp xếp, đổi mới các lâm trường quốc doanh thành các công ty lâm nghiệp tự hạch toán kinh doanh độc lập trên phạm vi toàn quốc, vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với các doanh nghiệp lâm nghiệp trong việc hướng tới QLRBV. Lâm trường Văn Chấn là doanh nghiệp Nhà nước được thành lập từ năm 1964, sau nhiều lần thay đổi tên, trụ sở và chức năng nhiệm vụ, năm 2007 Lâm trường Văn Chấn đang trong quá trình chuyển đổi thành Công ty Lâm nghiệp. Trước năm 2006 hoạt động của lâm trường chủ yếu thực hiện nhiệm vụ của dự án 661, khi chuyển sang cơ chế mới Lâm trường đang đứng trước những cơ hội và thách thức mới. Hiện nay lâm trường đang được Chương trình Lâm nghiệp Việt Nam - Cộng hòa Liên Bang Đức (GTZ) hỗ trợ xây dựng phương án QLRBV, trong đó đánh giá tác động xã hội là một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu cần phải thực hiện.
Xuất phát từ yêu cầu đó, đề tài “Đánh giá tác động xã hội của công tác quản lí rừng tại Lâm trường Văn Chấn tỉnh Yên Bái” đặt ra là hết sức cần thiết nhằm giúp Lâm trường Văn Chấn nói riêng và các lâm trường có điều kiện tương tự, nhìn nhận và đánh giá được những tác động xã hội trong QLR, mối quan hệ qua lại giữa địa phương và lâm trường để tiếp cận và dần đáp ứng được các tiêu chí của Bộ Tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV mà trước hết là các tiêu chí xã hội trong điều kiện và bối cảnh mới. CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới 1. Đánh giá tác động xã hội của các hoạt động sản xuất lâm nghiệp Trước những năm 1990, thuật ngữ “đánh giá dự án” mới chỉ giới hạn ở đánh giá hiệu quả bao gồm hiệu lực thực thi (efficiency) và hiệu quả (effectiveness). Từ sau năm 1990 các hoạt động đánh giá được thực hiện đã bao gồm cả đánh giá tác động (impact assessment), tức là xem xét các hoạt động của dự án đó có bền vững sau khi dự án kết thúc không (John et al, 2000).
Hiện nay, việc đánh giá tác động được coi như bắt buộc đối với tất cả các hoạt động đánh giá, bao gồm tất cả các thay đổi về sinh thái, văn hoá - xã hội, kinh tế, kỹ thuật, thể chế và chính sách đem lại bởi các hoạt động của một chương trình, dự án. Đánh giá tác động môi trường và xã hội (ESIA) đang ngày càng được tăng cường và áp dụng ở nhiều ngành với mục tiêu nhằm đảm bảo cho các vấn đề môi trường và xã hội được quan tâm thoả đáng trước khi đưa ra những lựa chọn đầu tư quan trọng, là phương tiện phù hợp để hỗ trợ quá trình ra quyết định [5]. ở rất nhiều quốc gia ESIA được thiết lập như một qui trình lập kế hoạch/phê duyệt chủ yếu chỉ áp dụng cho thiết kế khả thi các dự án phát triển qui mô lớn với vùng tác động hạn chế. ESIA không có mối liên kết cụ thể với bất kỳ một cơ chế phê duyệt hay cấp phép nào, điều đó có nghĩa rằng những kết quả của qui trình ESIA không thể có hiệu lực và khó kiểm soát [52].
Đánh giá và giám sát tác động nhằm để trả lời câu hỏi: những thay đổi được mong đợi có thực sự xảy ra không? và có hay không những tác động không được mong đợi nhằm điều chỉnh việc quản lý chương trình, dự án; cung cấp thông tin cần thiết cho quá trình ra quyết định từ cấp dự án tới cấp ra chính sách nhằm xác định mức độ bền vững của các hoạt động cũng như khâu thiết kế dự án; Giải trình cho các thành viên dự án về các mục tiêu đã được đề ra và vấn đề sử dụng các nguồn tài nguyên đã được cung cấp [5]. Năm 1996 trong báo cáo đánh giá của Winconsin Woodland, Micheal Luedeke và Jeff Martin đã khuyến nghị rằng hoạt động đánh giá tài chính đơn thuần chỉ nên sử dụng cho các công ty kinh doanh mà lợi nhuận kinh tế là yếu tố hàng đầu, còn đối với các dự án đầu tư mang nhiều yếu tố xã hội thì nên cân nhắc việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường. Để không bỏ qua trong quá trình thực hiện đánh giá tác động dự án, tổ chức nghiên cứu cao cấp về phát triển quốc tế Nhật bản (2003) đã đề xuất việc đánh giá tác động không chỉ tập trung so sánh kết quả đầu ra với đầu vào của dự án mà còn phải xem xét những ảnh hưởng tiêu cực và tích cực, hiện tại và tương lai, thậm chí là những ảnh hưởng gián tiếp phát sinh từ những ảnh hưởng trực tiếp. Vì vậy, trong quá trình đánh giá dự án, việc thiết kế phương pháp và câu hỏi nên chia thành 2 nhóm vấn đề là chính sách, thể chế - quản lý, kỹ thuật, môi trường, văn hoá - xã hội và kinh tế - tài chính; những tác động được phân loại thành 4 nhóm: tích cực/tiêu cực và mong đợi/không mong đợi.
[72] việc đánh giá hiệu quả kinh tế (áp dụng giá bóng - tính đến lạm phát, chi phí cơ hội) nên đồng thời là các đánh giá hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường trong đánh giá các chương trình, dự án lâm nghiệp. FAO [74], [75] nhấn mạnh việc đánh giá hiệu quả xã hội và môi trường khi đưa ra các báo cáo tham luận về lâm nghiệp xã hội, lâm nghiệp cộng đồng. Cũng theo FAO [68], một dự án trong lâm nghiệp dù có đạt được hiệu quả tài chính cao (NPV, IRR, B/C.) nhưng chưa đạt được hiệu quả xã hội (tạo việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng,.) và hiệu quả môi trường thì không được coi là một dự án bền vững. Nghị định thư Kyoto ra đời và việc thành lập Quĩ môi trường toàn cầu (GEF) càng đề cao vai trò của việc đánh giá hiệu quả xã hội và hiệu quả môi trường.
Đứng về phương diện các phương thức canh tác, hay sử dụng các phương án sử dụng đất khác nhau, Walfredo [73] đã cho rằng: Phương thức canh tác sẽ có những tác động tới kinh tế, sinh thái và xã hội từ đó sẽ có ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế, cân bằng sinh thái và phát triển xã hội. Tất cả các mối quan hệ ảnh hưởng này sẽ tác động toàn diện về kinh tế - xã hội - bảo vệ môi trường sinh thái.